03:37 ICT Chủ nhật, 25/06/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 101

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 11686

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 76832

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu » Trạm vệ tinh

Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chổ trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Thứ năm - 29/09/2016 14:03
với 28 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 6 dân tộc tại chỗ: Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ -Triêng, Brâu, Rơ Măm. Ngoài ra, còn có các dân tộc từ miền Bắc di cư vào như: Tày, Nùng, Thái, Mường, Thổ, Sán Dìu, Sán Chay, MNông, Dao, Lào, Giáy; từ miền Trung có các dân tộc như: Cơ Tu, Cor, Vân Kiều, Hre, Ra Giai, Co Ho, Ê Đê, Tà Ôi; từ miền Nam có 02 dân tộc là Hoa, Khơ Me.Với đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới nên công tác bảo tồn văn hóa truyền thống luôn đặc biệt được quan tâm. Những năm qua cùng với sự đầu tư của Đảng, Nhà nước và phát huy nội lực, phấn đấu không ngừng của địa phương, Kon Tum đã có nhiều đổi mới, bức phá vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu phát triển quan trọng.
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" và nay đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về "xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước", việc bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.
Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc đang đứng trước những thử thách lớn. Hoạt động thiết chế văn hóa vùng đồng bào dân tộc còn hạn chế; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tổ chức không được thường xuyên, còn sơ sài; khoảng cách về mức hưởng thụ văn hóa giữa vùng thành thị và nông thôn còn chênh lệch rất lớn. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể đã được sưu tầm nhưng chưa được đưa vào khai thác, sử dụng trong đời sống. Một số tập tục lạc hậu vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn; các tệ nạn mê tín dị đoan ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại. Nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Cơ sở vật chất, sản phẩm, phương tiện văn hóa phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn thiếu và lạc hậu... đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn văn hóa dân tộc trên địa bàn, nhất là các giá trị văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Do đó, công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay còn gặp những vấn đề bất cập như:
- Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS tại chỗ ở Kon Tum còn nghèo và khó khăn. Người dân ngày càng xao nhãng việc tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng nh­ư đánh cồng chiêng, uống r­ượu cần, múa hát. Mặt khác, các nghệ nhân tuổi ngày càng cao, già yếu, bệnh tật, nhiều cụ đã qua đời, đó là sự thiệt thòi, mất mát vốn quý của di sản văn hóa truyền thống của dân tộc.
 - Sự tác động của quá trình đô thị hóa, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã đến từng thôn, làng của đồng bào dân tộc thiểu số, tác động trực tiếp đến suy nghĩ, đến lối sống và phương thức sinh hoạt sản xuất của chính bản thân họ theo xu hướng mới (Đồng bào đã mua can, xoong, nồi, chậu, xô, rổ,…,bằng nhôm, nhựa về dùng thay thế các dụng cụ truyền thống).
- Do trình độ dân trí còn thấp, nên đa phần đồng bào không quan tâm đến việc lưu giữ, kế tục, sử dụng và truyền dạy văn hóa truyền thống cho các thế hệ sau. Bên cạnh đó là thế hệ trẻ khi đặt vấn đề về phong tục, tập quán, các lễ nghi tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống, các loại nhạc cụ, làn điệu dân ca… cũng ít quan tâm đến các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian nên bị mai một dần.
- Chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học mang tính thực tiễn cho các mục tiêu giữ gìn và phát huy vốn văn hóa dân gian vào đời sống xã hội; nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư­, bố trí cho lĩnh vực này hầu như không có và nếu có vốn đầu tư còn quá ít ỏi và khó khăn, đặc biệt là sự thiếu hụt cán bộ làm công tác văn hóa là người các dân tộc thiểu số ở địa phương. Các đề án, đề tài đã được phê duyệt nhưng do điều kiện kinh tế của tỉnh còn khó khăn nên chưa bố trí được nguồn kinh phí để thực hiện.
- Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương ở cơ sở chư­a chú trọng và có biện pháp chỉ đạo tích cực, hữu hiệu cho việc bảo tồn văn hóa truyền thống. Việc tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng tham gia giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ch­ưa được tiến hành thường xuyên và sâu rộng đến các thôn, làng và các tầng lớp nhân dân.
- Sự thay đổi tín ngưỡng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền văn hóa dân tộc. Hầu hết các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đều diễn ra xung quanh các lễ hội, nhưng giờ đây nhiều nơi không còn tổ chức các lễ hội truyền thống mà được thay bằng những lễ nghi tôn giáo mới. Ở những nơi này, cồng chiêng bị coi là những nhạc cụ của thần linh tà giáo, không được sử dụng và cần phải xóa bỏ hoặc đem bán đi, gây nên tình trạng “chảy máu cồng chiêng”.
- Sự xâm nhập của nền văn hóa bên ngoài từ nhiều luồng đã tấn công vào nền văn hóa dân tộc vốn đã yếu sức đề kháng. Lứa tuổi thanh niên chư­a ý thức đầy đủ về nền văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với những sinh hoạt văn hóa dân tộc.
- Việc kế thừa, phát huy nền văn hóa của các dân tộc thiểu số trong tỉnh mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chư­a đạt được kết quả nh­ư mong muốn. Công tác quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém, thiếu những giải pháp khả thi, chư­a có được những mô hình, những phương thức tổ chức sinh hoạt văn hóa thực sự hiệu quả trong các cơ sở buôn làng. Các sinh hoạt lễ hội, văn nghệ dân gian nhiều lúc còn mang tính thình thức và việc biến nó thành những sinh hoạt bổ ích, lành mạnh có tính thường xuyên và tính xã hội còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong khâu tổ chức.
- Việc xã hội hóa những chương trình văn hóa, nghệ thuật mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, dù đã đạt được những kết quả khích lệ nhưng vẫn ch­ưa thu hút được đông đảo công chúng quan tâm thực sự. Đa số các độc giả, khán giả, thính giả hiện nay, nhất là lớp trẻ vẫn có xu thế vọng ngoại, thậm chí còn mang tính thực dụng làm hạn chế việc phát huy hiệu quả của nền văn hóa truyền thống.
- Tình trạng di dân tự do đến Kon Tum thời gian qua đã tác động nhiều mặt đến sự phát triển của địa phương. Đa số dân di cư tự do vào lập nghiệp tại tỉnh Kon Tum đều đi từng hộ, nhóm hộ tự phát, không ở tập trung; có người thân, anh em họ hàng đã sống ổn định tại địa phương, do đó người dân di cư tự do theo vào sinh sống, làm ăn lương thiện, sống xen ghép cùng người thân tại các thôn, làng và được hưởng các hạ tầng cơ sở (điện, đường, trường, trạm…) như người dân tại chỗ (Trong đó, từ năm 2005 đến năm 2011 có 5.650 hộ với gần 17 ngàn khẩu, tập trung nhiều ở các huyện: Ngọc Hồi, Sa Thầy, Thành phố Kon Tum. Từ năm 2012 đến nay, có gần 1.500 hộ với hơn 4.400 khẩu di cư tự do đến, tập trung chủ yếu ở các huyện: Đăk Tô, Sa Thầy, Ngọc Hồi và Ia h'drai. Địa bàn có số dân di cư đến nhiều nhất là huyện Ngọc Hồi với 4.125 hộ, 12.219 khẩu; tiếp đến là huyện Sa Thầy 1.715 hộ, 5.130 khẩu; thành phố Kon Tum 466 hộ, 1.633 khẩu... Thành phần dân tộc của dân di cư tự do chủ yếu là dân tộc Kinh với 4.967 hộ, chiếm khoảng 70%, còn lại là dân tộc Mường, Tày, Thái, Nùng...Dân di cư tự do đến tỉnh Kon Tum từ nhiều tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở các địa phương như: Hòa Bình, Bắc Giang, Nghệ An, Thái Bình, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định... Với nhiều nỗ lực, trong thời gian qua, tỉnh Kon Tum đã và đang tạo điều kiện để những cư dân này được an cư, lập nghiệp trên vùng đất mới). 
- Đồng bào ngày càng theo tin lành và Thiên chúa giáo nên đa phần trong các lễ hội truyền thống của gia đình hay cộng đồng làng họ không thực hiện các nghi thức cúng trong lễ hội nữa, mà họ chỉ tin vào Chúa.
- Việc duy trì những nghề thủ công truyền thống (như đan lát, dệt vải, làm gốm, rèn,…) trong các gia đình của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum còn hạn chế. Một phần vì không có nguyên liệu để thực hiện, một phần vì làm theo cách thủ công mất rất nhiều công sức, thời gian mà màu sắc lại hạn chế. Trong khi đó nguyên liệu bán sẵn ở chợ rất nhiều và đa dạng về chất liệu, màu sắc. Thêm vào đó là việc người Kinh dệt trang phục truyền thống bằng máy móc và đem lên bán trên các làng với giá cả phù hợp. Do đó, đồng bào thường mua để sử dụng, chứ không cần dệt. Chính điều đó làm cho các nghề truyền thống ngày càng mai một và bản sắc văn hóa bị lai căng rất nhanh chóng. Vì trang phục dệt theo một mô típ nhất định nên hầu hết các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum chỉ biết mua về sử dụng chứ không mấy quan tâm đến việc xem đó có phải là trang phục truyền thống của dân tộc mình hay không.
- Lớp trẻ tiếp cận sớm với hàng điện tử, CNTT, phương tiện,…(khi có tiền thi họ mua đầu đĩa về xem phim, mở nhạc rốc, nhạc sàn nhảy múa trong nhưng ngày vui, đám cưới, lễ hội của gia đình và cộng đồng làng) nên không đam mê văn hóa truyền thống. Trong các lễ hội thì ngại không dám mặc trang phục truyền thống, nhất là nam giới.
- Đội ngũ cán bộ CCVC làm công tác kiểm kê, nghiên cứu còn hạn chế về lực lượng, năng lực và chưa thực sự tâm huyết với nghề.
- Hiện nay, ở các huyện, xã xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, trung tâm văn hóa cộng đồng, nhưng không phù hợp với văn hóa truyền thống của bà con nên đều bỏ hoang, gây lãng phí tiền của nhà nước (Nếu dùng kinh phí này vào xây dựng, sửa chữa nhà rông truyền thống thì tốt hơn. Bởi nhà rông là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của làng, nơi bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống).
- Ở Kon Tum hiện nay, khoảng 80% nhà rông được xây dựng bằng bê tông hóa (trụ, cầu thang), mái lợp tôn, sàn lát gạch hoa. Mặt khác, một số nhà rông xây dựng không đúng vị trí truyền thống mà xây dựng ở ngoài rìa làng (gần sông, suối, ruộng) vì không có đất, dân số ngày càng đông, diện tích đất ở ngày càng bị thu hẹp; một số thì xây dựng trong khuôn viên của trường học. Chính điều đó làm cho nhà rông ngày càng mất đi vị trí, vao trò của mình, kéo theo đó là các yếu tố văn hóa truyền thống không được duy trì hoặc mất hẳn. 
- Việc xây dựng các nhà máy thủy điện hiện nay dẫn đến mất đất, mất rừng, mất nguồn nước, nên ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội và kèm theo đó là không còn hoặc không thể duy trì các tập tục văn hóa truyền thống của đồng bào (VD: mất rừng thì không thể săn bắt, hái lượm; mất đất không thể sản xuất kinh tế truyền thống kéo theo là các nghi thức canh tác liên quan đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng không được thực hiện; mất nước thì không thể đánh bắt cá, tôm,…không còn tồn tại nguồn nước giọt). Mặt khác, khi nhà nước quy hoạch, di dân để xây dựng thủy điện lại không hỗ trợ tiền và nguyên liệu cho đồng bào làm nhà truyền thống mà chủ đầu tư tự xây nhà (tường gạch, nền lát đá hoa, mái lợp tôn), làm đường theo kiểu hình bàn cờ ở phố và cấp cho đồng bào. Việc làm này vô tình đã “bắt buộc” họ phải ở trong những ngôi nhà họ không thích và không phù hợp với văn hóa truyền thống của họ.
- Sự phát triển của hạ tầng cơ sở, nhất là điện, đường ảnh hưởng không nhỏ đến sự mai một hoặc mất hẳn của một số loại hình văn hóa truyền thống (VD: Một bộ phận nhỏ kinh tế khá hơn đã xây nhà gạch, lợp ngói, tôn, dùng bếp ga, nồi cơm điện,… dẫn đến không tồn tại không gian bếp truyền thống nữa; Việc vận chuyển nông sản trên rẫy bằng xe gắn máy, công nông, ô tô,…không thấy hình ảnh phụ nữ cõng củi, gùi nông sản hay những chiếc xe bò đôi chở củi, nông sản,...).
- Chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan trong việc bảo vệ di sản văn hóa (VD: Ủy ban, Sở VHTTDL, Công an, Bộ đội biên phòng,…) để việc mua bán, trộm cắp hiện vật truyền thống của đồng bào diễn ra hàng ngày. Đặc biệt là trộm cắp, mua bán cồng chiêng, nồi đồng (hiện nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum, nhất là địa bàn huyện Đăk Tô, tại các cửa hàng mua bán phế liệu rất dễ để mua cồng chiêng hay nồi đồng, họ bán cả bộ, bán lẻ với già từ 200 đến 300 nghìn đồng/kg). Rồi đến việc một số người vào làng mua khung nhà truyền thống của đồng bào về làm nhà ở, làm quán cà phê, ngược lại, đồng bào thì lấy tiền xây nhà ngạch, lợp tôn,…
- Kinh phí bảo tồn văn hóa truyền thống tại cơ sở còn rất hạn chế, chưa tương xứng với giá trị văn hóa truyền thống hiện có.
- Sự kết nối giữa cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở (xã, phường, thị trấn, các phòng văn hóa) còn hạn chế. Do đó, đôi khi trong làng có tổ chức lễ hội mà cán bộ văn hóa xã, phường, thị trấn và phòng văn hóa không biết (Tại nhiều cơ sở cán bộ văn hóa xã không nắm được trong xã, làng có bảo nhiêu bộ cồng chiêng hoặc có bao nhiêu lễ hội truyền thống của dân làng,…).
* Giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chõ trên địa bàn tỉnh Kon Tum:
Chúng ta biết rằng, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số rất phong phú, độc đáo, đa dạng, là cái làm nên bản sắc dân tộc, tồn tại trong dân gian dưới dạng vật thể và phi vật thể, rất dễ mất, chưa được điều tra, thống kê, sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu đầy đủ, đã và đang có nguy cơ cao bị phai nhạt, mất mát. Văn hóa phi vật thể của các dân tộc có 2 mặt: tích cực và cũng có một số hạn chế như một số phong tục, tập quán lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của các dân tộc.
Vì vậy, để tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một sồ nhiệm vụ sau đây:
Một là: Tiếp tục tăng cường nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học về bảo tồn các giá trị văn hoá đặc sắc của tỉnh; tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, quy hoạch, dự án phát triển văn hoá. 
Hai là: Coi trọng và làm tốt công tác bảo tồn di sản văn hoá của các dân tộc thiểu số tại chỗ; Thống kê, lập hồ sơ các di sản văn hóa; khuyến khích tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể; Phối hợp với các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết của chính quyền các cấp để bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống, ngăn chặn nguy cơ làm mai một, sai lệch hoặc thất truyền, đặc biệt là vấn nạn buôn bán, trộm cáp cồng chiêng. Có chính sách tạo điều kiện bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc. Khuyến khích sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian...Khuyến khích việc duy trì những phong tục tập quán lành mạnh của các dân tộc; phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; khôi phục và nâng cao các lễ hội truyền thống, bài trừ hủ tục có hại đến đời sống văn hóa của đồng bào; chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và các hoạt động lễ hội; duy trì và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.
Ba là: Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xã hội hoá trên lĩnh vực văn hoá, để ngày càng có nhiều công trình, nhiều sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu của công chúng. Tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân nắm giữ và có công phổ biến văn hóa thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.
Bốn là: Tăng cường công tác quảng bá về các chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác bảo tồn văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên các phương tiện truyền thông đại chúng như: Website, tạp chí văn hóa, báo, đài phát thanh và truyền hình trên địa bàn tỉnh.
Năm là: Khơi dậy sức sáng tạo chủ động của nhân dân trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa trong thời kỳ mới. Giữ gìn truyền thống văn hoá trong gia đình, trong làng, tạo điều kiện cho quần chúng tiếp nhận thông tin về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Sáu là: Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa. Tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc biết tự hào và trân trọng những giá trị tinh thần, đạo đức, phong tục tốt đẹp của mình, phát huy các giá trị văn hóa tích cực truyền thống trong cuộc sống mới. Xây dựng và thực hiện quy ước văn hóa trên cơ sở kết hợp những yếu tố truyền thống tốt đẹp. Tổ chức hình thức hoạt động văn hóa lành mạnh để thu hút nhân dân tham gia.
Bảy là: Tiếp tục quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chương trình bảo các giá trị văn hoá truyền thống; cân đối phân bổ ngân sách thực hiện các dự án thuộc Chương trình. Có chính sách hỗ trợ công tác bảo tồn, phát triển văn hoá, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hoá các dân tộc trong tỉnh; lồng ghép các chương trình đầu tư vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn vào việc hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hoá để nâng cao mức hưởng thụ về văn hoá cho đồng bào các dân tộc./.

 
 

Tác giả bài viết: Mai Văn Nhưng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Bảo tàng Kon Tum - Quá trình hình thành và phát triển

Giới thiệu chung: Bảo Tàng tỉnh trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kon Tum. Được thành lập năm 1998, trên cơ sở tách bộ phận Bảo tàng thuộc “Trung tâm Bảo tàng và Thư viện tỉnh” thành lập đơn vị Bảo tàng tổng hợp tỉnh theo quyết định số: 12/1998/ QĐ- UB, ngày 11 tháng 2 năm 1998. Năm 2009,...

Video chọn lọc