09:09 ICT Thứ hai, 11/12/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22


Hôm nayHôm nay : 335

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4266

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 158172

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu » Trạm vệ tinh

Lễ xuống lúa kho của dân tộc Gia Rai, Thị Trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy

Thứ hai - 07/08/2017 15:56
 Tộc người Gia Rai là một trong những dân tộc có dân số đông và cư trú lâu đời ở Tây Nguyên, riêng ở Kon Tum chỉ có một nhóm Gia Rai Aráp sinh sống. Họ sống tập trung ở xã Hòa Bình, xã Đoàn Kết, xã Ya Chim thành phố Kon Tum và các xã Yaly, Ya Tăng, Ya Xiêr, Mo Rai và thị trấn Sa Thầy thuộc huyện Sa Thầy.
Là một làng thuộc thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy, Làng Chốt hiện có trên 160 hộ, với hơn 950 nhân khẩu. Theo những người già kể lại, trước kia làng ở tận chân núi K’rah. Sau ngày giải phóng, cả làng đã chuyển ra khu vực gần suối Ia Xiêr để định cư tư đó cho đến nay. Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Kon Tum, Lễ hội luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người Gia Rai. Giữa cuộc sống hiện đại, người dân Gia rai vẫn giữ niềm tin tâm linh của mình, do đó họ vẫn thường xuyên tổ chức các lễ hội theo quy mô hộ gia đình hoặc cộng đồng làng. 
Trong đời sống tinh thần của người Gia rai, thần lúa là vị thần có vai trò quan trọng, được dân làng tôn kính. Dân làng tin rằng, mỗi vụ mùa thuận lợi, thóc lúa trên nương rẫy bội thu là do thần ban tặng. Ngược lại, nếu mất mùa là do thần lúa phạt, trách móc dân làng. Do vậy, hàng năm người Gia Rai thường tổ chức lễ xuống lúa kho để cúng Yàng và rước thần lúa về kho nghỉ ngơi. Tùy theo điều kiện của từng gia đình mà tổ chức lễ hội lớn, nhỏ khác nhau. Nếu gia đình có điều kiện thì cúng trâu, dê, heo, gà, ngược lại chỉ cúng dê, gà, heo, để tạ ơn Yàng đã phù hộ cho gia đình.
          Cũng như các lễ hội khác, Lễ xuống lúa kho thường diễn ra trong thời gian 03 ngày.   
Ngày thứ nhất (Tiến hành làm cây nêu, dây cột trâu và đưa trâu vào cây nêu): Khi các bước chuẩn bị đã hoàn tất, những người khéo tay nhất trong làng đến phụ giúp gia đình làm cây nêu, dây cột trâu, cột dê cho lễ hội; mọi người còn lại được phân công công việc theo khả năng của mình. Đối với người Gia rai Cây Nêu bao giờ cũng được xem là linh hồn của lễ hội, nơi các vị thần về cư ngụ chứng giám lòng thành của gia đình và bà con dân làng.  Trên đỉnh cây nêu gắn miếng đan có hình mặt trời, thể hiện cho sự vươn lên trong cuộc sống, đồng thời thay cho tiếng khẩn cầu, tiếng mời gọi Yàng ở trên cao, mời gọi các vị thần ở nơi xa xăm hãy về dự lễ hội cùng dân làng.
 
Các biểu tượng trang trí trên cây nêu
 
Theo quan niệm của người Gia rai vòng mặt trời tượng trưng cho sức mạnh, đẹp đẽ như mặt trời, nó sẽ mang lại may mắn cho bà con dân làng. Cọc và cây nêu chính xung quanh biểu trưng cho sự cứng cáp của cánh đàn ông, con trai, còn những cành nêu biểu trưng cho sự mềm mại của cánh đàn bà, con gái Gia rai.
Cây nêu bao giờ cũng được dựng trước sân nhà, vị trí cây nêu cột dê bao giờ cũng phải ở phía mặt trời mọc, còn cây nêu cột trâu ở phía mặt trời lặn. Theo quan niệm của người Gia rai dê tuy nhỏ bé nhưng chính là ảnh cả trong số những vật nuôi trong nhà vì vậy trí của nó là thể hiện cho sức mạnh và sự che chở của nó đối với những con vật khác. Đào hố xong chủ nhà (chủ lễ) bắt một gà đến bên cạnh hố để cắt tiết lấy máu làm lễ cúng trước khi dựng cây nêu.
Thực hiện nghi thức cúng chôn cây nêu
 
Tiết gà đem trộn chung với rượu đựng trong cái chén nhỏ, chủ lễ vừa cầm chén máu khua quanh miệng hố 6 vòng ngược chiều kim đồng hô sau đó khua ngược lại một vòng, vừa thực hiện ông vừa khấn:
“ Ơ Yàng đây là rượu và máu gà gia đình cúng lên Yàng để thông báo gia đình chuẩn bị dựng cây nêu làm lễ xuống lúa kho. Yàng hãy nhận lấy và giúp đỡ gia đình có nhiều trâu, nhiều lúa, nhiều bắp, để con cháu có cuộc sống no đủ, không đau ốm bệnh tật, không bị con ma rừng, ma suối làm hại, cho gia đình đông con nhiều cháu, để làm được cái nương, cái rẫy to hơn, cái nhà cao hơn, chắc hơn, tất cả là của Yàng đấy,”
Khấn xong ông đổ bát máu xuống hố như một hình thức mời Yàng và thần linh về uống và chứng kiến cùng gia đình. Sau nghi thức cúng của chủ nhà mọi người tập trung dựng cây nêu, khi dựng xong thì họ cắm một cành cây gạo vào chính giữa cây nêu. Theo quan niệm của người Gia rai cây trồng giữa cây nêu phải là những cây thuộc họ có gai thì mới được, nếu sau này cây sống xanh tốt tượng trưng cho mùa màng bội thu, lúa, bắp, mì xanh tươi và nặng quả như trái cây trên rừng còn ngược lại thì gia đình, con cháu sẽ đau ốm thường xuyên, trồng lúa, mì, bắp thì mất lúa,…
Trước khi cột trâu và dê vào vị trí từng cây nêu, chủ nhà cùng các thành viên trong gia đình cùng nhau cầm dây thừng rồi khấn:
“Ơ Giàng, hôm nay gia đình dâng con trâu, con dê cho Giàng, xin Giàng về chứng kiến mà phù hộ cho gia đình năm tới có lúa đầy kho, con cháu khỏe mạnh không còn đau ốm, mọi điều xấu không đến với gia đình mình nữa”.
Sau khi vật hiến sinh đã được cọt vào các cây nêu, chủ nhà đại diện cho gia đình đi mời bà con trong làng đến chứng kiến chung vui với gia đình. Những người biết đánh chiêng trong làng tập hợp thành một đội rồi tiến hành ghi thức đánh cồng chiêng quanh cây nêu và vật hiến sinh. Người Gia rai quan niệm rằng cồng chiêng chính là phương tiện để con người giao tiếp với thiên nhiên và các đấng thần linh. Trong mỗi tiếng cồng tiếng chiêng của họ luôn ẩn chứa linh hồn của con người của đại ngàn. Bởi vậy, đối với họ cồng chiêng là vật không thể thiếu trong lễ hội của gia đình cũng như cộng đồng làng. Tiếng cồng chiêng mỗi lúc một to và vang thật xa để mời Giàng về chứng kiến cho lễ hội của gia đình. Chủ nhà làm gà, làm heo để đãi dân làng cùng đến chung vui với gia đình mình và họ cùng nhau ăn, uống rượu, đánh cồng đánh chiêng tư tối cho đến sáng hôm sau. Đêm hôm đó thường được gọi là đêm thức cùng trâu.
Ngày thứ hai (ngày chính lễ): Khi mặt trời vừa nhô lên đỉnh núi, cũng là lúc gia đình chuẩn bị làm lễ đâm trâu, dê. Tiếng cồng chiêng tiếp tục vang lên, chủ nhà cùng con cháu tập trung đông đủ bên cây nêu để thực hiện nghi thức cúng vật hiến sinh. Ông và các thành viên trong gia đình lần lượt lấy gạo ném vào con trâu, dê rồi khấn:
“Hôm nay gia đình mình làm lễ xuống lúa kho, gia đình có con trâu, con dê cúng Giàng, đây là trâu, dê của Giàng, xin Giàng vui lòng nhận lấy và phù hộ cho gia đình có nhiều trâu hơn, nhiều lúa, nhiều mì, bắp, để con cháu được no đủ, không còn ốm đau bệnh tật nữa…”.
Khấn xong, chủ lễ tay cầm dao chém vào con trâu một nhát để làm phép sau đó các thành viên trong gia đình lần lượt chém vào con vật hiến sinh, cuối cùng những người dàn ông trong làng tham gia lễ hội giúp gia đình hạ gục trâu, dê.
 
Chuẩn bị thực hiện nghi thức đâm trâu
 
Nghi thức hoàn tất, vật hiến sinh đã chết, người ta tiến hành làm thịt trâu và dê. Việc đầu tiên là chặt đầu trâu, dê đặt lên cây nêu để thông báo cho Giàng biết việc hiến sinh đã xong. Phần thịt được cắt nhỏ thành từng miếng đều nhau để chia cho các gia đình tham gia, một phần để chế biến các món ăn mời bà con dân làng và khách trong những ngày diễn ra lễ hội.
Khi thịt và gan các con vật đã chín. Chủ nhà cùng các thành viên trong gia đình  thực hiện nghi thức cúng mời Giàng, thần linh về chung vui hưởng lộc cùng gia đình. Tại vị trí kho lúa của gia đình, ông cầm trên tay ống lồ ô đựng máu của vật hiến sinh đã được hòa lẫn rượu ghè để làm lễ trước sự chứng kiến của dân làng. Lúc này, tất cả các thành viên ngồi dưới gầm kho lúa, sau đó ông vào trong kho lúa thực hiện nghi thức đổ máu của vật hiến sinh lên lúa, máu sẽ chảy qua lúa, xuống sàn và nhỏ vào đầu của các thành viên trong gia đình thì coi như nghi thức đã hoàn thành. Theo quan niệm của họ nếu máu nhỏ trúng đầu của con cháu trong gia đình đồng nghĩa với việc Giàng và thần linh đã chấp thuận lời thỉnh cầu của gia đình, báo hiệu một cuộc sống tốt đẹp đang chờ đón gia đình phía trước và ngược lại có nghĩa điều xấu, không may sẽ đến với gia đình trong năm tới. Do đó, chủ nhà phải thực hiện lại nghi thức đến khi được Giàng và thần linh chấp thuận mới thôi.
Tiếp đến, ông cùng vợ và con cháu lần lượt xé một ít huyết, gan và thịt của vật hiến sinh đặt lên dàn Gưng nhỏ tại cây nêu, đốt nến làm bằng sáp ong, rồi thực hiện nghi thức cúng mời Giàng về chứng kiến và hưởng lộc cùng gia đình: 
“Ơ Giàng đây là huyết, là gan và thịt của con trâu, con dê, Giàng hãy về nhận lấy mà chung vui cùng con cháu và phù hộ cho gia đình có nhiều trâu hơn, nhiều lúa nhiều mì, bắp, để con cháu được no đủ, không còn ốm đau bệnh tật nữa…”.
Sau khi thực hiện nghi thức cúng tại cây nêu xong, chủ lễ cùng các than viên trong gia đình vào trong nhà thực hiện nghi thức tiếp theo. Tại vị trí cây nêu trong nhà, cùng với một ghè rượu, họ lần lượt lấy huyết, gan và thịt đặt miệng ghè rồi khấn:
“Ơ Giàng đây là huyết, là gan và thịt của vật hiến sinh, mời Giàng về nhận lấy mà chung vui cùng con cháu và phù hộ cho gia đình có nhiều trâu hơn, nhiều lúa, nhiều mì, bắp, để con cháu được no đủ, không còn ốm đau bệnh tật nữa…”.
Thực hiện xong nghi thức chủ lễ uống phép cang rượu đầu tiên để nhận lộc của Giàng và thần linh ban cho, sau đó lần lượt từng thành viên trong gia đình uống. Đây chính là ghè rượu tình nghĩa gắn kết các thành viên trong gia đình từ nay đoàn kết với nhau, no cùng hưởng, đói cùng chịu.
Các nghi thức đã hoàn tất, lúc này chủ nhà bắt đầu mời mọi người đến cùng uống rượu hưởng lộc của Giàng cùng với gia đình. Họ góp vui cùng với gia đình bằng những ghè rượu thơm ngon nhất của gia đình mình.
Uống rượu trong lễ hội
 
Ngày thứ ba (Thực hiện nghi thức hạ đầu trâu): Khi bà con trong làng đã đến đông đủ, tiếng cồng chiêng bắt đầu vang lên để làm lễ hạ đầu trâu. Đội cồng chiêng đi quanh cây nêu, sau đó vừa đánh vừa đi vòng quanh nhà một vòng rồi về lại vị trí cây nêu. Khi tiếng cồng chiêng vừa dứt, cũng là lúc chủ nhà tiến hành nghi thức hạ đầu trâu xuống. Phần thịt đầu trâu được nấu chín, một phần để cúng Yàng, một phần để mời mọi người thưởng thức, còn phần xương được hơ khô rồi gác lên vị trí trang trọng nhất ở kho lúa.
Sau khi thịt đầu được nấu chín chủ nhà lấy một để dâng cúng Giàng và thần linh để thông báo kết thúc lễ hội. Tại vị trí trang trọng của nhà kho, chủ nhà và các thành viên trong gia đình lấy mỗi người một miếng thịt đặt lên dàn thiêng rồi khấn:
"Ơ Giàng! gia đình đã làm xong lễ xuống lúa kho, mời Giàng hãy chung vui với gia đình, tất cả mọi thứ nào trâu, dê, nào rượu Giàng đã được thưởng thức cùng chúng tôi, bây giờ thịt đã hết, rượu đã cạn, mời Giàng về nhà mình và ở yên đó đừng bỏ đi, và  phù hộ cho kho lúa của gia đình luôn được chắc chắn, lúc nào cũng đầy lúa, để con cháu được no đủ, không còn ốm đau bệnh tật nữa...".
Kết thúc nghi thức cúng tại kho lúa, chủ nhà cùng các thành viên trong gia đình thực hiện nghi thức cúng tương tự tại vị trí các cây nêu cột trâu, dê và cây nêu trong nhà. Khi các nghi thức của lễ hội đã xong, trong niềm vui viên mãn của gia đình, khi lòng thành của gia đình đã được Yàng và dân làng đến chứng giám. Họ cảm thấy như được trút bỏ, cởi mở hết những băn khoăn, trăn trở của đời sống khó khăn, của thiên nhiên khắc nghiệt. Lúc này, các thành viên trong gia đình thay nhau mời khách những cang rượu tình nghĩa, đồng thời gửi lời cảm ơn dân làng đã đến chung vui cùng gia đình. Với sự chân thành, lòng nhiệt tình, mọi người lại đắm chìm trong men rượu cần, trong niềm hân hoan của lễ hội.
Mặc dù là lễ hội thực hiện trong phạm vi gia đình, nhưng lễ xuống lúa kho luôn được xem là dịp vui của cả cộng đồng làng, có sự góp mặt của đông đảo bà con. Lễ xuống lúa kho là một nét đẹp trong đời sống văn hóa ứng xử của cộng đồng người Giarai, mang đậm tính bản sắc dân tộc và giá trị nhân văn sâu sắc. Lễ hội đã để lại dấu ấn tốt đẹp cho mỗi người tham dự và có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng các dân tộc, tạo nên sức mạnh đoàn kết của dòng tộc và cộng đồng làng. Trải qua nhiều thế hệ, tuy hình thức tổ chức lễ xuống lúa kho đã thay đổi ít nhiều, nhưng nó vẫn còn tồn tại, lưu truyền và phát huy mãi đến mai sau./.

 

Tác giả bài viết: Mai Văn Nhưng, Đoàn Thị Kim Thu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Bảo tàng Kon Tum - Quá trình hình thành và phát triển

Giới thiệu chung: Bảo Tàng tỉnh trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kon Tum. Được thành lập năm 1998, trên cơ sở tách bộ phận Bảo tàng thuộc “Trung tâm Bảo tàng và Thư viện tỉnh” thành lập đơn vị Bảo tàng tổng hợp tỉnh theo quyết định số: 12/1998/ QĐ- UB, ngày 11 tháng 2 năm 1998. Năm 2009,...

Video chọn lọc