11:25 ICT Thứ ba, 12/12/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 446

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5060

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 158966

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu

Nhạc cụ truyền thống của người Triêng ở huyện Ngọc Hồi

Thứ hai - 05/09/2016 09:46

Người Triêng có những nét văn hóa độc đáo thể hiện trong từng chi tiết như trang phục, tiếng nói, nhà cửa và phong tục, tập quán. Theo các nhà dân tộc học Việt Nam, thì phần lớn dân tộc Giẻ - Triêng nói chung và người Triêng nói riêng trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay đều di cư từ miền Nam nước Lào. Họ đến bằng nhiều con đường khác nhau và chia thành nhiều đợt. Trước đây, người Giẻ - Triêng cư trú quanh quần sơn Ngọc Linh, nơi có những triền núi cao nên nguồn sống chính của họ là phát nương, làm rẫy, có một số nơi làm ruộng nước. Cây lương thực chủ yếu là ngô, khoai, sắn, lúa,…

Sống ở vùng núi cao gần thiên nhiên, các hình thức nghệ thuật của người Triêng cũng có những đặc trưng riêng. Lao động vất vả, họ tự sáng tạo ra nhiều loại nhạc cụ độc đáo, tuy đơn giản nhưng âm thanh của nó lại quyến rũ lòng người. Từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên như dây mây, dây đùng đình đến ống nứa, lồ ô, da cóc, da bò, da sơn dương,… đều trở thành phương tiện giúp người Triêng bày tỏ lòng mình. Những nét văn hóa truyền thống đó đã trở thành bản sắc riêng có của người Triêng nơi đây.

Một trong những giá trị văn hóa truyền thống của họ đó chính là nhạc cụ. Người Triêng có một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú và rất độc đáo. Người Triêng say đắm dân ca dân tộc mình, đó là tiếng hát tỏ tình, biểu hiện tình yêu, trong các dịp cưới xin, khi dệt vải, hát ru, tiếng hát cúng ma,… Đặc điểm chung của những bài hát dân ca không chỉ hát bằng lời, mà còn có thể dãi bày thông qua các loại nhạc cụ dân tộc như sáo, đàn, khèn…Trong các dịp lễ hội, đặc biệt là lễ mừng nhà rông mới hay lễ đón năm mới với những sinh hoạt trò chơi dân gian, dân nhạc, dân ca, dân vũ thì vai trò của nhạc cụ dân tộc được coi là linh hồn của người Triêng gửi gắm tiếng lòng của mình với bạn tình, với cộng đồng và với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ. Từ những sinh hoạt văn hóa dân gian sống động như vậy mà hầu hết nam nữ thanh niên biết sử dụng các loại nhạc cụ và múa hat dân ca ,…

Nhạc cụ của người Triêng rất độc đáo, đa dạng về âm điệu và chức năng. Các nhạc cụ được làm bằng tre, nứa, lồ ô, gỗ, vỏ bầu, sừng, bằng kim loại, để phục vụ đời sống tinh thần. Dù bằng một ống nứa, thanh tre, quả bầu thì các loại nhạc cụ dân gian đều rất độc đáo. Các nghệ nhân đã cảm nhận, chế tác, truyền thụ âm nhạc dân tộc truyền thống theo một cách riêng của mình. Họ dựa vào đôi tai để xác định độ trầm, bổng từng loại nhạc cụ như: trống, chiêng, Đinh thút, sáo, đàn, Ka Jơl,… Mỗi nhạc cụ được sử dụng trong một hoàn cảnh khác nhau. Có loại dùng trong lễ hội, có loại chỉ đánh trên nương rẫy, có loại là phương tiện để bày tỏ tình yêu đôi lứa, có loại vừa để giải trí vừa để xua đuổi chim, thú,...

Nói đến nhạc cụ, trước tiên phải là trống. Trống là nhạc cụ không thể thiếu trong các lễ hội, ngày hội của người Triêng, nó không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu sinh hoạt đời thường mà còn là nhạc khí thiêng, gắn kết giữa con người với thế giới thần linh. Trống của người Triêng có hai loại là Hơ gơr và Pa thân.

H’gơr là một cặp trống khá lớn. Thân trống được làm từ một khúc gỗ liền có chiều dài khoảng 1m, ở giữa phình to và thuôn nhỏ về hai đầu. Mặt thường được bưng bằng da bò hoặc da sơn dương. Dọc theo tang trống, người ta sử dụng dây mây để căng hai mặt da của trống. Thông thường, trước khi đánh, người ta hơ mặt trống vào lửa để điều chỉnh cao độ của trống. Hai mặt của một trống thường được điều chỉnh có âm và cao độ khác nhau. Dùi trống được làm bằng gỗ, đầu gõ được đẽo tròn và được bọc vải để tạo cho âm sắc ấm hơn khi đánh, mặt khác tránh sự cọ sát trực tiếp của gỗ vào bề mặt mặt trống.

Khi diễn tấu, trống được treo trên xà nhà rông. Mỗi người sử dụng một trống, một tay giữ, một tay dùng dùi gõ. Âm thanh của Hơgơr rất mạnh mẽ, có khả năng vang vọng khắp núi rừng. Hơgơr là nhạc cụ thiêng của người Triêng, nên chỉ được sử dụng khi có lễ hội của cộng đồng làng, do nam giới sử dụng và không bao giờ mang ra khỏi nhà rông.

Bên cạnh Hơgơr, người Triêng còn có loại trống nhỏ, mặt được làm bằng da bò. Mà họ gọi là Pa Thân. Về cơ bản Pa Thân cũng giống như Hơ gơr, chỉ khác khi diễn tấu, trống được đeo ngang trước bụng và dùng tay vỗ vào hai mặt trống. Pa thân là nhạc cụ do nam giới sử dụng và thường được dùng để hòa tấu với dàn chiêng, đệm cho múa, hát trong các lễ hội, ngày hội của gia đình và cộng đồng làng.

Trong số các nhạc cụ thì cồng - chiêng, trong đó có bộ chiêng Nỉ, chiêng Ngô hay còn gọi là chiêng Mã được coi là vật báu và nhạc khí thiêng của người Triêng. Một bộ chiêng Nỉ hay chiêng Ngô của người Triêng chỉ gồm 2 chiếc, ngày xưa thì giá trị của nó có thể bằng vài chục con trâu. Đây là loại nhạc cụ không thể thiếu trong các lễ hội lớn của người Triêng.

Chiêng Nỉ gồm có 2 cái. Chiêng lớn gọi là mẹ, chiêng nhỏ gọi là con. Chiêng mẹ có bề mặt nhẵn, đường kính miệng 45,5cm; đường kính mặt 46cm; cao 6cm. Chiêng con có bề mặt lồi, lõm, đường kính miệng 37,3cm; đường kính mặt 37,5cm; cao 6cm (Bộ chiêng nhà ông A Hùng, làng Chả Nhày, xã Đăk Dục). Khi trình diễn, chiêng con đánh trước rồi đến chiêng mẹ. Chiêng con đánh mặt trong, chiêng mẹ đánh mặt ngoài.

Chiêng Ngô cũng có 2 cái, gọi là chiêng vợ và chiêng chồng giống chiêng Tha của người B’râu. Chiêng chồng có đường kính miệng là 48,7cm; đường kính mặt 49’5cm; cao 9cm; Chiêng vợ có đường kính miệng 35,7cm; đường kính mặt 36,5cm; cao 5cm. Khi trình diễn, đánh chiêng vợ trước, rồi đến chiêng chồng. Chiêng vợ đánh mặt ngoài còn chiêng chồng đánh mặt trong.

Chiêng Ngô


Chiêng Nỉ

Khi biểu diễn chiêng Ngô và chiêng Nỉ, người Triêng thường sử dụng một số loại nhạc cụ khác để hòa âm, đó là Rinh và Đúc đích.

Rinh là nhạc cụ gõ được chế tác từ một ống lồ ô, một đầu có mấu kín, một đầu hở, dài khoảng 70cm, đường kính khoảng 7cm, được cấu tạo như chiêng tre của người Ba Na. Ngược lại, Đúc đíck có chiều dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 7cm, hai đầu rỗng. Ở giữa thân ống, người ta khoét một lỗ có dạng hình chữ thập rộng 2,5cm, dài 9cm để tạo âm khi đánh.

Có thể nói, với người Triêng, chiêng Ngô và chiêng Nỉ chính là phương tiện kết nối giữa thế giới của con người và thế giới của các thần linh, mỗi tiếng chiêng ngân lên đều sẽ được các vị thần sông, thần suối chứng giám mang lại điều tốt lành đến cho bà con dân làng, thóc lúa đầy kho, xua đuổi mọi bệnh tật và cái đói. Bởi vậy, loại nhạc cụ này chỉ được sử dụng trong các dịp lễ hội lớn của làng như: Đâm trâu, tết năm mới, mừng nhà rông mới hoặc ăn mừng lúa mới....

Trong đời sống âm nhạc của người Triêng, có lẽ Đinh tút là loại nhạc cụ độc đáo nhất. Tiếng đinh tút là âm thanh gắn bó mật thiết với họ qua ngàn đời, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần. Chẳng những thế, tính nguyên thủy độc đáo của loại nhạc cụ này và phong cách biểu diễn của các nghệ nhân đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng mà chỉ ở dân tộc Triêng này mới có. Mỗi khi tiếng đinh tút thổi lên mênh mang dìu dặt như là hiện thân sức sống bền bỉ, dẻo dai của họ hòa cùng tiếng trống và cồng chiêng, âm thanh ấy lan tỏa, bay bổng vào ngõ ngách, trên các triền núi cao, nơi định cư của người Triêng, tạo nên một không gian văn hóa huyền ảo...

Theo tiếng Triêng: “Đinh” có nghĩa là ống, “Tút” có nghĩa là âm thanh hoặc giai điệu. Đinh Tút là ống phát ra âm thanh, giai điệu. Ðinh tút được làm bằng nứa, gồm có sáu ống ngắn, dài, lớn nhỏ và có tên gọi khác nhau. Thông thường chiều dài của các ống từ 60cm đến 1m, đường kính từ 2,5 đến 3cm. Các ống đinh tút có cấu tạo khá đơn giản, một đầu rỗng để thổi và một đầu có mấu kín. Đầu thổi được khoét vát hai bên tạo thành hình bán nguyệt để khi diễn tấu môi dưới của người thổi ôm khít vào một bên miệng ống. Để thổi đinh tút cần phải có 6 người, mỗi người thổi một ống. Ðinh tút hay, hay dở là phụ thuộc vào người tạo ra nó, từ khâu chọn nứa, đến việc thẩm âm là kinh nghiệm của nghệ nhân đó.

Đinh Tút được tạo ra rất tình cờ. Vì người Triêng làm nương rẫy ở vùng quanh năm lộng gió nên mùa trỉa rẫy, trong lúc lom khom trỉa hạt giống thì từ ống lồ ô đựng hạt giống phát ra những âm thanh trầm bổng rất vui. Âm thanh đó đã tạo phấn khích lao động sản xuất, theo đó, Đinh Tút được tạo ra. Muốn thổi được đinh tút, phải có sức khỏe và có kỹ thuật. Khi thổi, nghệ nhân phải nhún nhảy mô phỏng những động tác của người đang trỉa lúa hoặc nhổ cỏ, giặm lúa…

Điều thú vị là đinh tút của người Triêng chỉ có đàn ông thổi và khi thổi đinh tút thì những người đàn ông đó, dù già hay trẻ đều phải đóng giả làm đàn bà. Họ không được đóng khố mà phải mặc váy của phụ nữ che kín từ cổ xuống chân, giấu một tay vào bên trong, chỉ thò một tay ra cầm ống đinh tút để thổi. Việc đàn ông mặc váy thổi đinh tút đã trở thành tập quán từ rất xa xưa. Khi ấy nhạc cụ này thường chỉ dùng cho lễ cúng, đặc biệt là lễ cúng lúa, để gọi hồn lúa, đưa đường đón lúa từ nương rẫy về buôn. Mà hồn lúa theo quan niệm của người Triêng là một cô gái xinh đẹp nhưng rất yếu đuối, lại nhút nhát nữa. Nếu thấy bóng dáng đàn ông, nàng tiên lúa sẽ xấu hổ, bỏ chạy. Nàng tiên lúa bỏ chạy thì sang năm sẽ mất mùa, đói kém cho nên khi thổi đinh tút, đàn ông dứt khoát phải mặc trang phục của đàn bà. Vậy là, từ một quan niệm mang tính lễ nghi nông nghiệp đã hình thành lối diễn tấu nhạc cụ rất độc đáo có một không hai của đồng bào Triêng. Thường khi biểu diễn, các nghệ nhân bao giờ cũng kết hợp với múa. Đội hình múa di chuyển theo chiều ngược kim đồng hồ, động tác múa ngây ngất, lắc toàn thân. Thổi đinh tút không đứng yên, các nghệ nhân luôn di chuyển theo hình vòng cung.

Nghệ nhân Bloong Vươn đang chế tác Đinh tút

Đội nghệ nhân làng Dục nhày 3, biểu diễn Đinh tút

Ðinh tút là loại nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, trong lao động sản xuất, nhất là vào dịp mùa xuân. Lúc đầu, Đinh Tút chỉ để cho những người đàn ông thổi trong những lúc rảnh rỗi, sau đó được dùng như nhạc lễ của người Triêng trong các dịp lễ hội của cộng đồng.

Nếu Đinh tút là nhạc cụ trình diễn mang tính tập thể, thì người Triêng cũng còn có những nhạc cụ khác cũng được chế tác từ nứa dùng để độc tấu. Đó là sáo. Sáo của người Triêng là loại sáo đơn, âm thanh của sáo có những âm rất độc đáo, có những tiếng thô, đục, và rè bên cạnh những tiếng trong trẻo êm ái như tiếng người thủ thỉ. Trong dân gian, sáo là một loại nhạc cụ của các chàng trai, họ thường mang theo như một người bạn đường, bạn trong lao động và là công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc chinh phục trái tim các cô gái. Tiếng sáo say đắm gọi người yêu những lúc đi rừng, lên nương, rẫy và thổ lộ tâm tình cùng nàng trong những đêm trăng sáng trên các triền núi.

Sáo của người Triêng có một số loại tiêu biểu như: Gor, Đơl đô, Ta lun, Ta lin, Ta leh. Đây là nhạc cụ dành cho nam giới.

Gor là nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Gor được làm bằng một ống nứa nhỏ, chiều dài khoảng 95cm, đường kính lòng ống khoảng 1,2cm, một đầu rỗng, một đầu có mấu. Ở đầu có mấu, người ta khoét một lỗ thổi hình chữ nhật và có gắn lưỡi gà làm bằng tre. Trên thân sáo chỉ có một lỗ bấm cao độ nằm cách đuôi sáo 20cm. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày hoặc thổi vào những lúc có tâm trạng buồn muốn khóc nhưng không thể khóc, hay thổi để tưởng nhớ về những người đã khuất.

Đơl đô là loại sáo thổi ngang, chi lỗ vòm, dài khoảng 90cm, hai đầu rỗng và chỉ có một lỗ thổi nằm ở 1/4 thân sáo. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh bằng cách dùng ngón tay cái bịt mở ở hai đầu ống để tạo ra những cao độ khác nhau. Đơl đô thường được sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày.

Ta lun là loại sáo thổi dọc, chi lỗ vòm, dài khoảng 65cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 3 lỗ bấm tạo cao độ. Ta lun được sử dụng trong những lúc nghỉ ngơi, thư giãn hay có thể dùng để độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát khi dệt vải,...

Cũng giống như Ta lun, Ta lin được chế tác từ một ống nứa, dài khoảng 25cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 4 lỗ bấm tạo cao độ. Ta lin thường được thổi vào những lúc nông nhàn, nghỉ ngơi trong nhà, trong các đám cưới. Thổi các bài nói về tình cảm vợ chồng hoặc tình yêu đôi lứa như: “Zdơ Zdơ Ning Ning”, cả nam và nữ cùng hát đối đáp với nhau. Bên cạnh đó, Ta lin còn có thể độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Nghệ nhân A Vẻ đang chế tác Talẹh

Ta lẹh là loại sáo thổi ngang và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo, dài khoảng 70cm, hai đầu đều rỗng. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh ở một đầu bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở đầu ống để tạo những cao độ khác nhau. Khi cây lúa trên rẫy bắt đầu lớn thì người ta thổi sáo Ta lẹl trong quá trình trông rẫy, đến khi cây lúa trổ đòng mới thôi. Mặt khác, Ta lẹh còn dùng để độc tấu, đệm cho hát trong sinh hoạt hàng ngày hoặc trong những ngày lễ, ngày vui của gia đình và cộng đồng làng.

Cùng với nhạc cụ màng rung, nhạc cụ tự thân vang và nhạc cụ hơi, thì nhạc cụ dây cũng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Triêng. Trong đó có các loại tiêu biểu như: Ong eng, M’bin và M’bin puil.

Ong eng là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Gồm hai loại: Ong eng ọt và Ong eng nhâm. Về hình thức ong eng cấu tạo tương tự như đàn nhị của người Kinh nhưng chỉ có một dây. Dây đàn được làm từ dây rừng, người Triêng gọi là Đùng đình. Loại dây này nhỏ như sợi cước, có màu đen và rất dai. Cần đàn là một đoạn tre nhỏ có đường kính khoảng 2,5cm, dài khoảng 90cm. Hộp cộng hưởng được làm từ một ống nứa dài khoảng 12cm, đường kính khoảng 7cm, mặt đàn thường được bịt bằng da cóc. Cần kéo đơn giản là một thanh tre vót mỏng và cột bằng dây mây nhỏ tạo độ cong vừa phải như hình cánh cung, sau đó lấy sáp ong bôi lên dây tạo độ trơn khi kéo. Khi diễn tấu, người chơi ngồi xuống đất, hoặc sàn nhà, dùng ngón chân kẹp chặt vào cần đàn, tay phải kéo, tay trái vừa giữ đàn vừa vuốt vào dây để điều chỉnh cao độ. Ong eng có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu cùng với M’bin puil hoặc đệm cho người hát những lúc rảnh rỗi. 


Nghệ nhân A Vẻ đang độc tấu Ong eng
 

M’bin là nhạc cụ được chế tác từ gỗ sữa, gồm có cần đàn và hộp cộng hưởng,  Hộp cộng hưởng của M’bin hình khum được đục rỗng, chiều dài khoảng 30cm, rộng khoảng 15cm. Mặt hộp cộng hưởng được ghép bởi một miếng gỗ mỏng khác, phía sau hộp cộng hưởng có khoét lỗ để thoát âm. Cần đàn dài khoảng 45cm, trên cần đàn được tạo các gờ nổi bằng thanh gỗ nhỏ và được dán bằng sáp ong để bấm cao độ khi đánh. Dây đàn cũng được làm bằng dâyĐùng đình. M’bin có loại hai dây và 3 dây. Đây là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để hòa tấu với các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát dao duyên, dệt vải hay múa. Loại đàn này được đánh vào những lúc nông nhàn hay vui chơi tại nhà rông.

M’bin puil là nhạc cụ dây, chi gẩy, gồm có hai dây. Cần đàn tròn và nhỏ, được làm bằng tre hoặc gỗ, dài khoảng 70cm. Hộp cộng hưởng được làm từ vỏ bầu khô. Dây đàn cũng được làm bằng dây đùng đình. Khi diễn tấu, phần miệng quả bầu được úp vào bụng của người chơi và với động tác khép mở miệng quả bầu vào thành bụng để tạo ra những sắc thái khác nhau. Tay phải dùng để gảy đàn, tay trái vừa giữ cần đàn vừa bấm phím.

Nghệ nhân A Ngói, làng Đăk Răng đang chế tác M’bin puil 

M’bin puil thường được đánh vào những lúc nông nhàn, lúc chuẩn bị đi ngủ, hay sáng sớm và có thể dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát, múa.

Bên cạnh đó, người Triêng còn có một số nhạc cụ khác trong đời sống âm nhạc của họ như: Ta lin, Khèn, Ka Jơl, …

Có thể nói, cùng với nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số khác ở Kon Tum và Tây Nguyên, nhạc cụ truyền thống của người Triêng đã được mọi người biết đến qua các hoạt động giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế. Những nhạc cụ này không chỉ chứng tỏ bản sắc văn hóa riêng biệt, đặc sắc không thể trộn lẫn của người Triêng mà còn góp phần làm phong phú, đa dạng nền âm nhạc truyền thống của các dân tộc tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum nói riêng và cả nước nói chung.

Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng ồ ạt thổi đến tận vùng sâu, vùng xa, thôn, làng của người Triêng đem theo luồng gió văn hóa mới, sự hội nhập đa dạng về văn hóa văn nghệ đã ảnh hưởng ít nhiều đến văn hóa dân gian dân tộc, trong đó có nhạc cụ truyền thống. Do đó, việc nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng nhằm góp phần bảo tồn, giới thiệu các loại nhạc cụ truyền thống của người Triêng là một trong những vấn đề hết sức cần thiết. Thông qua đó, mỗi chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn, có cách ứng xử với không gian văn hóa, đặc biệt là các loại nhạc cụ truyền thống, để từ đó góp phần bảo tồn các loại nhạc cụ truyền thống chính là bảo vệ sự tinh túy của văn hóa lễ hội, phát huy tính tự ngẫu hứng, hoang sơ, linh thiêng,…cái chất bản sắc văn hóa và âm thanh của Trống, Chiêng, Đinh tút, Đàn, Sáo,…mà các nhạc cụ khác không thể có được. Đó là linh hồn, là bản sắc của các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Kon Tum nói chung và người Triêng nói riêng mà chúng ta cần phải bảo tồn và phát huy./. 

Tác giả bài viết: Trạm vệ tinh - Bảo tàng tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Hệ thống trưng bày

 *Vài nét về Bảo tàng tỉnh KonTum.  Bảo tàng tỉnh được tách ra từ Trung tâm Bảo tàng – Thư viện tỉnh, thành lập tháng 3/1998. Cũng trong năm đó, ngày 8/8/1998, UBND tỉnh ký quyết định số 1471 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Sau một quá trình chuẩn bị và nhiều lần...

Video chọn lọc