02:56 ICT Thứ tư, 13/12/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 160

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5519

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 159425

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu

Nhà sàn truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum

Thứ ba - 08/08/2017 14:51
Kon Tum nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình có hướng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây. Đồi núi, cao nguyên và vùng thung lũng, bãi bồi ven sông suối xen kẽ nhau. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 22 - 23 độ C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 9 độ C. Thời tiết với hai mùa mưa và khô rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa trung bình khoảng 2.121mm. Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87%.
Từ xa xưa các dân tộc thiểu số Kon Tum đã biết dựa vào thiên nhiên, quá trình sinh sống họ đã đúc kết kinh nghiệm và cải biến nhà ở của mình cho phù hợp. Nhà sàn (nhà trên cột) với kiến trúc thô mộc, chắc chắn, thoáng mát đảm bảo tre trở, bảo vệ, nghỉ ngơi cho đồng bào, là môi trường sản sinh và duy trì nếp văn hóa gia đình, cộng đồng làng, dân tộc.
Trước đây vị trí dựng nhà sàn có liên quan chặt chẽ với vị trí chọn đất lập làng do những người có trách nhiệm trong làng lựa chọn, được già làng quyết định và hợp thức hóa qua một số lễ tục cầu xin thần linh (Yang) cai quản khu đất ấy đồng ý hoặc đêm ngủ mơ thấy thần linh báo mộng cho điềm lành thì già làng sẽ tiến hành chọn đất lập làng. Ở người Gia Rai có tục ném đầu gà: Già làng hiến sinh một con gà trống, nắm chân ném sao cho đầu gà quay lại phía mình là tốt; Lựa đất làm nhà người Ba Na cũng tiến hành rất cẩn thận, chủ nhà dò hỏi ý kiến thần linh trước, trước ngày chon đất làm nhà mới chủ nhà nằm chiêm bao thấy một điềm báo tốt, sáng mai dậy đi chọn đất, chọn được đất ông bỏ 5 hạt gạo vào chính giữa khấn cầu mong thần linh báo tin xấu tốt, rồi họ đi chỗ khác khoảng vài ba giờ sau quay trở lại nếu 5 hột gạo còn nguyên là đất tốt, nếu mất 3 hột phải bỏ đi chọ đất khác; Người Giẻ - Triêng có lễ tục: Sử dụng ống nứa dài 10 cm, đổ nước và bỏ 2 hạt gạo vào chôn ống nứa thẳng đứng tại một vị trí đất được chọn, ngày hôm sau quay lại xem nếu mối không xông, kiến không làm tổ, gạo chìm xuống đáy ống là tốt, ngược lại nếu hạt gạo bị mất thì họ sẽ đi chọn chỗ khác; Người Xơ Đăng có tục: Già làng cúng thần linh một con heo nhỏ và một con chó, lấy huyết hòa chung rồi vẩy xung quanh vùng đất đã chọn, đêm về nếu già làng mơ thấy điềm lành là tốt… Những lễ tục này, giúp cho dân làng có cảm giác yên tâm sinh sống, sản xuất bởi sự che chở của thần linh (Yang), tránh được những tai họa: Dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, chiến tranh…
Nhà sàn truyền thống các dân tộc Kon Tum ban đầu là kiểu nhà sàn 2 mái đơn giản, cửa chính mở mặt trước của ngôi nhà để đặt cầu thang lên xuống và hai cửa phụ ở 2 đầu hồi. Sau đó xuất hiện thêm kiểu nhà sàn dài (nhà nối vách), được kết nối theo phong tục khi gia đình có thêm người lấy vợ hoặc chồng thì ngôi nhà sàn ban đầu lại được nối thêm một gian để cho hộ gia đình mới tách có nơi sinh sống. Điều đó thể hiện sợi dây huyết thống, sự đoàn kết gắn bó của nhiều thế hệ cùng sinh sống, lao động sản xuất dưới một mái nhà trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của núi rừng, sự biệt lập với thế giới bên ngoài.
 Theo thời gian, sự giao thương giữ vùng đồng bằng và miền núi được khai thông, mối quan hệ giữ gia đình với gia đình, gia đình với cộng đồng đã có những biến đổi, tính cá nhân, ý thức về sở hữu tài sản: Nhà cửa, chiêng, ché, trâu bò… biểu thị cho sự giàu có trong cộng đồng làng. Ngôi nhà sàn dài đã được hộ cá thể hóa, cải biến kết cấu thành ngôi nhà sàn bề thế, chắc chắn, đẹp hơn so với kiểu nhà sàn trước đó. Xuất hiện là kiểu nhà sàn có mái hiên đằng trước (nhà trồ) như nhà sàn của người Ba Na ven thành phố Kon Tum và vùng người Gia Rai ở huyện Sa Thầy.
Người Xơ Đăng cư trú trên địa hình hiểm trở, độ dốc lớn nên không phổ biến kiểu nhà sàn dài. Nhà sàn của người Xơ Đăng cũng không có cải biến gì nhiều, vẫn là kiểu nhà sàn truyền thống, sàn thấp dựng trên địa hình dốc, cửa chính trổ mặt trước và hai cửa phụ lên ở hai bên đầu hồi, đồng thời mở rộng thêm mái của đầu hồi, tạo thêm không gian sử dụng được rộng rãi cho phụ nữ giã gạo, bổ củi, gác công cụ lao động sản xuất. Không gian sinh hoạt trong nhà được chia làm nhiều phần mỗi phần là một hộ gia đình sinh sống cũng là nơi đặt bếp chính của gia đình cũng là nơi ngủ của cha mẹ, các góc nhà sàn giành cho con cái. Trong nhà sàn của người Xơ Đăng, bếp là linh hồn của ngôi nhà, nơi đặt bàn thờ tổ tiên (Trâng), cũng là nơi duy trì sinh hoạt hàng ngày của gia đình, đồng thời cũng là nơi tiếp đón khách của chủ nhà.
     Trước đây để làm nhà sàn, chủ nhà nhờ nhân công là anh em họ hàng, người trong làng vào rừng chọn những loại vật liệu: dây mây, lồ ô, nứa, gỗ, đi cắt cỏ tranh... Riêng gỗ làm nhà sàn được lựa chọn từ những loại tốt, thẳng có đường kính lõi từ 40cm trở lên như: Sao, Cà chít, Dổi, Dầu… đây là những loại gỗ khá cứng, ít co ngót nứt nẻ, mối mọt, chịu được nước. Khi vật liệu đã được chuẩn bị đầy đủ, vào thời điểm cuối năm, mùa màng đã thu hoạch xong, là thời gian nghỉ ngơi để chuẩn bị bước vào mùa lễ hội, chủ nhà chọn ngày tốt, làm một lễ nhỏ xin thần linh cho phép được dựng nhà sàn để kịp ở vào năm mới.
Nhà sàn làm xong, chủ nhà làm lễ ăn mừng nhà mới. Tùy từng điều kiện kinh tế mà chủ nhà nhà ngèo hay nhà giàu mà làm lễ xoàng hoặc lễ trọng. Nhà ngèo giết heo, nhà giàu giết trâu, bò, rượu cần tạ ơn thần linh, mời bà con trong làng tới ăn mừng. Những con vật dâng thần linh trong lễ cúng mừng nhà mới phải lựa kỹ càng: giống đực, màu đen, trâu phải con lớn có sừng dài hơn một gang tay, gà trống con to. Khi dâng lễ chủ nhà không bày biện lễ vật gì nhiều mà chỉ đặt một ghè rượu, vài cái cần, một cái bát đựng gan con vật cúng. Lễ mời thần linh xong, chủ nhà mời bà con trong làng ăn, uống, đánh cồng chiêng múa xoang suốt đêm.
Nhìn chung nhà sàn các dân tộc thiểu số Kon Tum có kết cấu vững chắc, bộ khung nhà gồm cột, kèo, đòn móc, đà sàn được liên kết bằng các mối buộc từ dây mây, mái lợp cỏ tranh hoặc nứa. Nhà lớn, nhỏ, số lượng gian nhà nhiều hay ít tương ứng với điều kiện kinh tế và số lượng nhân khẩu của từng hộ gia đình. Hộ có điều kiện kinh tế, nhân khẩu đông thì thuê nhân công, chặt gỗ dựng nhà lớn và ngược lại hộ ngèo chỉ làm một nhà nhỏ, hoặc chòi để lấy chỗ sinh sống tạm bợ. Số gian nhà sàn tính theo số lẻ, thông thường thì nhà làm từ 3, 5, 7 gian và 2 trái. Vị trí dựng nhà trên địa hình bằng phẳng, độ dốc khác nhau. Mặt sàn nhà thường cách mặt đất khoảng 1,5m để giữ vệ sinh và tạo sự khô ráo trong mùa mưa, thông thoáng trong mùa khô, trước đây còn tránh được thú dữ. Mặt sàn nhà ban đầu được trải những tấm lồ ô đập dập sau này bà con đã biết dùng cưa xẻ ván gỗ để lát sàn cho đẹp, chắc chắn. Chiều cao trung bình của nhà sàn khoảng từ 4m – 4,5m (mặt đất đến đòn nóc), dài từ 7m trở lên, rộng 4 - 5m. Mái nhà dựng theo kiểu chữ A dốc, lợp cỏ tranh, hoặc lợp tấm nứa đập dập, nứa úp âm dương.
Bố trí không gian sinh hoạt trong nhà sàn: gian đầu hồi phía Tây giành cho cha mẹ, người già, khi cha mẹ chết gian này chuyển lại cho người con cả, đầu hồi phía Đông giành cho gia đình con cái. Điều này thể hiện một quan niệm sự khởi đầu giành cho con và điểm kết thúc giành cho cha mẹ. Gian giữa nhà đặt bếp chính giành cho việc ăn uống trong lễ trọng, nơi tiếp đãi khách quý của gia đình. Những nếp sống, sinh hoạt hàng ngày trong ngôi nhà sàn đã được thể hiện hết sức trân thực, mang đậm chất sử thi: Ngày đã hết và đêm đã đến. Trâu đã được lùa về, người ta đã ăn cơm tối. Sự sống thức dậy cùng với ngọn lửa, bùng lên trong bếp, vây quanh là những bóng người ngồi chồm hổm, hư ảo trong làn khói thuốc tỏa ra từ các ống điếu. Sau một ngày ướt đầm trên nương rẫy, bây giờ thân hình co ro, bàn tay chìa về phía ngọn lửa, những con người Tây Nguyên đang gợi lại các thời xa xưa, các vị anh hùng huyền thoại, trong cái thế giới bên kia, thế giới của huyền thoại, mà ngọn lửa thông tí tách và những cái bóng đen chập chờn đang tạo lại không khí sử thi...
Từ sau ngày tái thành lập tỉnh (1991) trở lại đây, thực hiện chủ chương phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo của Trung ương, của tỉnh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum đã được nâng cao vượt bậc. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm những ngôi nhà sàn dài không còn thấy trong đời sống của đồng bào và kiểu nhà sàn của các hộ gia đình đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Đặc biệt từ những năm 2005 trở lại đây, do ảnh hưởng của lối sống hiện đại, của đô thị hóa mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh, sự khó khăn, đắt đỏ về nguồn nguyên liệu tự nhiên làm nhà sàn, nên đồng bào đã không còn thiết tha với việc làm nhà sàn truyền thống mà xây nhà trệt theo kiểu kiến trúc của người Kinh để ở cho nhanh và rẻ. Theo so sánh của bà con, cùng một diện tích sử dụng nhưng làm theo kiểu kiến trúc nhà sàn truyền thống thì có giá đắt gấp nhiều lần so với làm nhà trệt cấp 4 như người Kinh.
Chính vì vậy việc nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng, bảo tồn nhà sàn dài, nhà sàn, không gian sinh hoạt và đưa các hoạt động trình diễn văn hóa tại nhà sàn: dệt vải, đan lát, giã gạo... tại Bảo tàng tỉnh là vấn đề cấp thiết hiện nay. Nếu làm tốt được vấn đề này sẽ góp phần làm phong phú thêm nội dung trưng bày Bảo tàng ngoài trời phục vụ việc tìm hiểu, thăm quan của công chúng khi đến với Bảo tàng đồng thời bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhà sàn truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum.
Nhà sàn truyền thống của dân tộc Xơ Đăng, huyện Đăk Tô

Nhà sàn truyền thống của dân tộc Ba Na huyện Kon Rẫy
Nhà sàn dài của dân tộc B’râu, huyện Ngọc Hồi
Nhà sàn dài của dân tộc Gia Rai, huyện Sa Thầy

Nhà sàn của dân tộc Giẻ - Triêng huyện Ngọc Hồi

Nhà sàn có mái hiên đằng (nhà trồ) trước
của dân tộc Ba Na tại thành phố Kon Tum
 
   Bài và ảnh: Nguyễn Văn Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Hệ thống trưng bày

 *Vài nét về Bảo tàng tỉnh KonTum.  Bảo tàng tỉnh được tách ra từ Trung tâm Bảo tàng – Thư viện tỉnh, thành lập tháng 3/1998. Cũng trong năm đó, ngày 8/8/1998, UBND tỉnh ký quyết định số 1471 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Sau một quá trình chuẩn bị và nhiều lần...

Video chọn lọc