11:50 ICT Thứ hai, 16/07/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 464

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10713

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 270909

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu

Lễ cúng lúa mới (Bra Moóc), của dân tộc B’râu, làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

Thứ tư - 13/12/2017 16:45
B’râu là một trong những dân tộc thiểu số ít người nhất hiện nay ở Kon Tum nói riêng và cả nước nói chung. Với 138 hộ, 452 khẩu, họ cư trú chủ yếu ở làng Đắk Mế, một số ít cư trú ở làng Tà Ka (một người B’râu lấy vợ, chồng rồi định cư ở đây), xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Cũng giống như các dân tộc thiểu số (DTTS) khác ở Kon Tum. Sinh sống trên vùng đất cực Bắc Tây Nguyên hùng vĩ và đậm nét văn hóa, người Brâu đã hình thành cho mình một sắc thái văn hóa đặc sắc, trong đó tiêu biểu là các lễ hội dân gian truyền thống.
Theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, người B’râu tin rằng thế giới là hữu hình, mọi hiện tượng, sự vật đều có các vị thần ở bên trong. Để sinh tồn phát triển, con người cần giao lưu gắn kết cộng đồng, cùng hướng tới sức mạnh siêu nhiên thông qua hình ảnh các thần linh, bởi vậy các lễ hội của dân tộc Brâu thường mang đậm yếu tố tâm linh. Mặt khác, xuất phát từ tập quán sản xuất nông nghiệp phát nương, làm rẫy theo mùa vụ, cuộc sống sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người B’râu rất coi trọng việc cúng thần nông nghiệp để cầu mùa, cầu may và tạ ơn các thần. Cũng bởi vậy mà dân tộc B’râu có nhiều lễ hội trong một năm. Đặc biệt là hệ thống lễ hội liên quan đến vòng đời sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Hiện nay, người Brâu vẫn duy trì các lễ hội chính trong năm như: lễ phát  rẫy, lễ trỉa lúa và lễ mừng lúa mới.
Lễ cúng lúa mới thường được tổ chức vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 (dương lịch) hàng năm, khi mà cây lúa trên rẫy đã no sữa.
Bà con dân làng phải theo dõi chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây lúa để biết được thời gian làm lễ cúng lúa mới. Khoảng cuối tháng 9, là thời gian cây lúa mang bầu (có đòng), đến khi đẻ con (ra bông lúa) và bông lúa ngậm đủ sữa (tháng 10).
Với người Brâu, lễ cúng lúa mới là một sự kiện trọng đại của cả làng hay một nhóm gia đình và cũng có thể tổ chức theo từng gia đình. Lễ hội cúng lúa mới cũng là dịp để các gia đình và cộng đồng làng thể hiện niềm vui mừng khi đón những hạt lúa mới thơm ngon, vì mùa màng bội thu và cảm ơn thần linh đã ban cho dân làng được một mùa bội thu, nhà nhà ấm no.
Để chuẩn bị cho lễ hội, công tác chuẩn bị đã được tính toán và lo trước đó cả tháng. Khi các gia đình lên rẫy kiểm tra lúa đã no sữa. Già làng họp dân làng thông báo việc tổ chức lễ cúng lúa mới và phân chia công việc cho mọi người. Đến gần ngày diễn ra lễ hội, đàn ông, thanh niên vào rừng tìm mây đắng, chặt gỗ, tre, nứa, lồ ô, bẫy con chim, con chuột,…về trang trí cho lễ hội; phụ nữ thì đi hái rau rừng, bắt cá, ủ rượu ghè, lấy củi, gùi nước,…hay lên rẫy tuốt một ít cốm (lúa ngậm sữa) để về rang, rồi giã cốm để cúng và ăn trong buổi lễ.
* Lễ cúng lúa mới thường kéo dài 4 ngày:
+ Ngày thứ nhất: Các hộ gia lên rẫy tuốt lúa về làm cốm và lấy 3 – 5 bông lúa về mang lên nhà rông làm lễ cúng.  
+ Ngày thứ hai: Tiến hành rang lúa và giã lấy cốm để cúng và hấp lúa rồi giã lấy gạo để làm cơm lam ăn trong lễ hội.
+ Ngày thứ ba (chính lễ): Làm lễ cúng các con vật hiến tế (Trâu, dê, heo, gà).
+ Ngày thứ tư: Làm lễ ăn đầu trâu, chân trâu và gác xương đầu trâu lên nhà rông.
- Ngày thứ nhất
Để chuẩn bị cho việc tổ chức lễ hội được đầy đủ và diễn ra theo đúng nghi thức truyền thống. Từ sáng sớm ngày thứ nhất, các gia đình phải lên rẫy tuốt lúa và lấy bông lúa về làm cốm và cúng thần lúa. Nhưng người phụ nữ trong gia đình sẽ lên rẫy tuốt lúa về làm cốm. Họ phải chọn những bông lúa căng tròn, đã ngậm no sữa. Những hạt lúa này mới cho ra những hạt cốm dẻo và thơm mùi lúa mới. Nếu lúa non quá hoặc chín quá khi giã sẽ bị nát. Họ tuốt khoảng nửa teo lúa về làm cốm và nửa teo lúa chín về hấp, sau đó phơi nắng rồi giã lấy gạo để lam cơm. Bên cạnh đó, họ không quên lấy 3 - 5 bông lúa chắc hạt và nhiều hạt nhất, người B’râu gọi là lúa thiêng để mang về làm lễ cúng lúa mới. Những hạt lúa đầu tiên phải được tuốt bằng tay, tuyệt đối không dùng liềm cắt ngang thân lúa vì họ quan niệm rằng thần lúa nằm trong thân lúa nếu dùng liềm cắt lúa sẽ bị thần lúa phạt làm cho mất mùa hoặc con cháu ốm đau. Những hạt lúa và bông lúa này phải để trong teo, gùi mang về, tuyệt đối không được cầm trên tay hoặc đựng trong bao. Riêng 3 bông lúa khi về nhà phải để ở góc nhà và hôm sau mang cả teo lên nhà rông để thầy cúng làm lễ tắm cho bông lúa.
- Ngày thứ hai – Giã lúa lấy cốm và gạo
+ Giã lúa lấy cốm:
Sáng sớm ngày thứ hai, ở các hộ gia đình trong làng không khí ngày hội đã nhộn nhịp hơn những ngày thường. Bà con tiến hành rang lúa và chuẩn bị cối chày để giã lúa lấy cốm mang lên nhà rông làm lễ cúng.
Lúa được cho vào chảo rang từng đợt một. Quá trình rang phải đảo liên tục để lúa không bị cháy và chín đều. Thỉnh thoảng lấy hạt lúa bóc thử, nếu hạt gạo mềm là được hoặc rang khi nào những hạt lúa nở thành cốm kêu lách tách có mùi thơm là được. Sau khi rang xong họ tiến hành giã lúa.
Việc giã lúa thường do phụ nữ đảm nhiệm. Họ cho lúa vào cối từng ít một và bắt đầu giã. Khác với các dân tộc thiểu số ở Kon Tum, người B’râu sử dụng loại cối vừa, chày nhỏ và dài. Họ không dùng hai tay cầm chày giã như các dân tộc khác mà chỉ sử dụng một tay. Tiếng chày giã lúa được thực hiện liên tục tạo thành âm thanh tựa như đang chơi nhạc. Cứ như thế họ giã đến khi xong thì tiến hành xảy lấy cốm.
+ Giã lúa lấy gạo để lam cơm:
Lúa để giã lấy gạo lam cơm phải là lúa chín. Sau khi tuốt về họ cho lúa vào nồi hấp xôi để hấp cho lúa chín. Thông thường lúa được hấp khoảng 4 – 5 giờ là chín. Khi lúa hấp xong thì đổ ra tấm cót phơi ngoài nắng khoảng 2 ngày thì đem vào giã lấy gạo.
- Ngày thứ ba (chính lễ)
6 giờ sáng, cộng đồng làng tập trung tại nhà rông để chuẩn bị tiến hành làm các công việc chuẩn bị cho ngày lễ chính. Phụ nữ thì đi sơ chế các nguyên liệu để chế biến các món ăn, ngâm gạo để lam cơm,…; Đàn ông thì dựng cây cột trâu,…Đối với dân tộc B’râu, tùy theo từng lễ hội mà họ làm cây nêu khác nhau. Khi tổ chức các lễ kiêng hoặc cầu xin (Lễ kiêng làng, lễ cúng ốm đau, Lễ cầu sức khỏe, lễ tỉa lúa) thì dựng cây nêu cao để cầu xin thần linh và các giàng phù hộ. Vì người B’râu quan niệm, khi làm lễ cầu xin thì phải làm cây nêu cao và đẹp vươn lên trời cao để Giàng (thần linh) nhìn thấy mà về phù hộ cho gia đình, dân làng, đó cũng là sợi dây, cầu nối giữa gia đình, cộng đồng làng với thần linh để mang những lời cầu nguyện của dân làng đến với thần linh. Còn trong lễ trả ơn hay tạ ơn (lễ cúng lúa mới, lễ tuốt lúa, lễ mở cửa khoa lúa) thì làm cây nêu thấp.
Cây nêu trong lễ cúng lúa mới được làm rất đơn giản, chỉ có ba khúc gỗ tròn, cao khoảng 1,5m chôn thẳng hàng và một thanh nằm ngang được cột chặt bằng dây mây.
Sau khi cây nêu đã làm xong, các con vật hiến sinh được đưa vào vị trí cây nêu, thời gian đã được chọn, thầy cúng (Pơ dâu) tập trung dân làng để làm lễ hiến sinh.
Tại ví trí cây nêu, Già làng cầm một que le vừa đập vào con trâu vừa khấn: “Ơ Thần suối H’niêng, đồi mờ nú, các thần linh gần xa về chứng kiến. Hôm nay dân làng làm lễ Cúng lúa mới, xin các thần phù hộ cho cây lúa trên rẫy khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, cây lúa đẻ nhiều con, nở nhiều bông. Cầu thần trời, thần đất phù hộ cho hồn lúa ở lại với dân làng đừng đi xa.
Ơ Thần suối H’niêng, đồi mờ nú, các thần linh gần xa, nay dân làng có con trâu, con dê, con heo, con gà, rượu ghè cho giàng đây. Tạ ơn giàng đã chấp thuận lời cầu xin của dân làng đã cho cây lúa lên tốt, nở nhiều bông, ra nhiều hạt sau này tuốt được nhiều lúa, đựng được đầy kho, ăn lâu không hết”.
Dứt lời khấn, thanh niên, trai làng tiến hành hạ gục các con vật hiến sinh. Họ lấy ống lồ ô đựng máu các con vật hiến sinh để thực hiện các nghi thức cúng trong lễ hội. Đầu và chân trâu mang lên nhà rông để hôm sau thực hiện nghi thức ăn thịt và gác đầu lên nhà rông, nội tạng được nấu chín để cúng thần lúa. Riêng thịt được chia làm hai phần, một phần dùng để cúng và chế biến các món ăn trong lễ hội, một phần được chia đều cho các hộ gia đình trong làng.
Lúc này, không khí lễ hội đã bắt đầu nhộn nhịp. Mọi người ai vào việc nấy, đàn ông, thanh niên thì tiến hành làm thịt gà, heo, dê, trâu; Phụ nữ thì nhóm lửa, lấy nước, lam cơm, chẻ ống lồ ô để đựng thức ăn và làm một số công việc khác.
Trong khi đó, thầy cúng cùng một số thanh niên trong làng tiếp tục thực hiện nghi thức cúng tại kho lúa. Ông lấy máu của các con vật hiến sinh và một ít cốm mang lên kho lúa. Tại vị trí bên trong kho lúa, thầy cúng kính cẩn khấn: “Ơ thần kho lúa mời về ăn máu trâu, dê, heo, gà…xin hồn lúa ở lại trong kho đừng đi xa, cho dân làng được khỏe mạnh, lúa đầy kho, ăn lâu không hết”. Vừa khấn ông vừa lấy máu bôi lên xà ngang và các cột bên trong kho lúa. Sau đó ông lấy máu bôi vào cốm và khấn mời giàng, các vị thần linh về ăn lễ vật của dân làng và phù hộ cho dân làng được lúa đầy kho, ăn lâu không hết. Sau khi kết thúc lời khấn ông tiến hành nghi thức ăn cốm mới như để hưởng thụ lộc của giàng và các vị thần linh đã ban cho.   
Trong khi thầy cúng thực hiện các nghi thức cúng, dân làng cùng nhau chế biến các món ăn truyền thống để phục vụ trong quá trình tổ chức lễ hội.
Sau khi thịt, gan các con vật hiến tế đã được nấu chín, dân làng đã tập trung đầy đủ. Tại vị trí cạnh kho lúa, các lễ vật đã đầy đủ, gồm: các teo lúa đựng bông lúa của các hộ gia đình; một ít cốm; máu, gan, lòng,…các con vật hiến tế; thuốc lá; rượu ghè để thực hiện nghi thức cúng tắm cho bông lúa.
Trước khi làm lễ cúng, phải đánh chiêng Tha, vì người B’râu quan niệm, nếu Tha không lên tiếng thì con cái sinh ra sẽ bị câm.
Trong lễ cúng lúa mới cũng như các lễ hội khác, thủ tục cúng chiêng tha và mời tha ăn là quan trọng nhất vì người Brâu cho rằng chiêng tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, là tổ tiên của họ. Vì vậy, trong ngôn ngữ người Brâu không có từ đánh chiêng Tha mà là gọ Tha pơi (mời Tha nói). Để mời Tha nói trước tiên phải làm lễ mời Tha ăn, mời Tha uống.
Chiêng tha gồm chiêng vợ (chuar) và chiêng chồng (Jơ Liêng), là biểu tượng tinh thần, quyền lực tối ưu trong đời sống cộng đồng. Đó là vật chủ thông linh giữa thế giới thần linh và con người, nó có chức năng phán truyền vì vậy chiêng luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong lúc cúng lễ.
Để thực hiện nghi thức, già làng lấy huyết bôi vào lòng 2 chiếc chiêng rồi rót rượu vào chiêng vừa khấn mời Tha ăn, Tha uống: “Ơ Tha, đây là máu của vật cúng được dân làng dâng lên Tha, đó là con vật đẹp nhất, thức ăn ngon nhất, rượu cũng ngon nhất xin mời Tha ăn, Tha uống để vui cùng dân làng”. Lúc này tiếng chiêng Tha bắt đầu cất lên, khi kết thúc bài đánh chiêng Tha, thầy cúng bắt đầu thực hiện nghi thức cúng tắm cho bông lúa. Trước khi cúng, già làng lấy trầm hương (trầm hương có mùi thơm như nhang), một ít trấu rượu và một chùm lông gà đốt lên để thần lúa biết mà về dự và chứng kiến lòng thành của dân làng.
Để thực hiện nghi thức cúng, thầy cúng hút một ít rượu ghè nhổ xuống đất rồi lấy huyết bôi vào bông lúa và kính cẩn khấn: “Hôm nay dân làng làm lễ cúng chuẩn bị tuốt lúa, cầu xin các vị thần: thần trời, thần đất, thần nước, thần đồi,…hãy phù hộ cho dân làng được khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn và dân làng tuốt được lúa nhiều. Đây chúng tôi tắm rửa cho thần lúa”. Vừa khấn ông vừa cầm chùm bông lúa nhúng vào miệng ghè rượu tượng trưng cho việc tắm cho thần lúa. Tiếp đến, ông hút một cần rượu và đổ vào chùm bông lúa như một hình thức mời thần lúa uống rượu.
Trong ngày này, nhà nào có lúa rẫy hoặc đang thu hoạch lúa cũng sẽ nhờ chủ lễ thực hiện một nghi thức nhỏ để cầu mùa cầu may. Thầy cúng dùng bó lúa nhúng vào ghè rượu sau đó đưa lên vai người chủ gia đình rồi xoay theo vòng tròn, vừa xoay vừa đọc lời khấn “Ơ giàng, xin giàng cho hạt lúa lên kho, hãy phù hộ cho gia đình năm nay được lúa nhiều, đựng hai ba kho, ăn đến đời con, đời cháu, ơ giàng”.
Kết thúc nghi thức cúng, thầy cúng uống cang rượu đầu tiên, rồi đến những người tham gia thực hiện nghi thức cúng uống. Sau khi kết thúc các nghi thức cúng trong ngày, dân làng tập trung ăn, uống, vui chơi đến 7, 8 giờ tối là nghỉ để chuẩn bị cho ngày mai.    
- Ngày thứ tư (Ăn thịt đầu và chân trâu)
 Nếu như nghi thức hiến sinh vật hiến tế và cúng kho lúa, tắm cho thần lúa là những nghi thức quan trọng nhất trong ngày thứ ba, thì trong ngày thứ  tư là nghi thức ăn đầu và chân trâu cũng là nghi thức cuối cùng của lễ hội và kết thúc lễ hội bằng việc thầy cúng cột đầu trâu lên nhà rông.
Đầu và chân trâu được đem thui và mổ lấy óc, phần thịt được lọc ra để chia đều cho các thành viên tham gia làm thịt trâu.
Khác với các dân tộc thiểu số khác, đầu trâu thường đem hơ qua lửa cho khô rối mới gác lên mái nhà, thì người B’râu không hơ lửa mà để như vậy gác lên. Với sự hỗ trợ của cộng đồng, thầy cúng cầm xương đầu gác lên một vị trí trang trọng nhất trong nhà rông.
Kết thúc phần nghi thức, mọi người tập trung ăn, uống và vui chơi ở nhà rông rồi tản về các hộ gia đình ăn, uống đến khi hết thịt, rượu mới nghỉ.
* Thu hoạch lúa đại trà
Sau khi ăn lúa mới khoảng 10 đến 15 ngày, lúc này lúa trên rẫy bắt đầu chín vàng, người B’râu bước vào vụ thu hoạch.
Vào sáng sớm ngày thu hoạch, đại diện chủ nhà đem theo lễ vật là một con gà, trấu rượu cần cùng các vật dụng cần thiết lên khu rẫy thiêng của gia đình mình để làm một số nghi thức trước khi tuốt bông lúa đầu tiên. Tại vị trí rẫy lúa, chủ nhà cột 03 cây lúa chụm lại với nhau và để trấu rượu, phân con dúi, cơm ở giữa. Sau đó đốt nhang (người B’râu lấy trầm hương và lông gà đốt thay nhang), rối lấy tiết gà bôi vào gốc lúa, khấn:
Ơ Giàng, nay đã hết mùa lúa, xin giàng cho phép gia đình mang lúa về nhà để con cháu có cái ăn, no cái bụng, ấm cái thân… Cầu mong giàng và các vị thần linh hãy phù hộ cho gia đình được lúa nhiều, không được lép, tuốt không hết”.
Kết thúc nghi thức, chủ nhà tiến hành tuốt gùi lúa đầu tiên mang về bỏ vào kho lúa. Lúc này người tuốt lúa phải ở nhà không được đi đâu, Vì nếu đi ra ngoài sợ thần lúa sẽ đi mất. Ngày hôm sau chủ nhà cùng vợ lên rẫy tuốt lúa. Ngày thứ ba thì tất cả các thành viên trong gia đình tham gia tuốt hết lúa trên rẫy mang về kho. Mỗi lần lên rẫy tuốt lúa họ đều lấy cơm, phân dúi và trấu rượu cần bỏ vào vị trí 03 cây lúa làm lễ cúng hôm trước. 
Lễ hội Mừng lúa Mới của dân tộc B’râu là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc biệt, một môi trường văn hóa đặc thù, một mảng màu rõ nét trên bức tranh văn hóa đa sắc màu các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum nói chung, dân tộc B’râu nói riêng. Lễ hội Mừng lúa Mới chính là một hình thức thể hiện bản sắc văn hóa tộc người độc đáo, nó chứa đựng những khát vọng, ước muốn tâm linh của đồng bào B’râu. Mặc dù mỗi năm lễ cúng lúa mới được tổ chức với quy mô lớn, nhỏ khác nhau, nhưng nó thể hiện tính cộng đồng rất cao. Đây là dịp để các hộ gia đình, các thành viên trong làng gặp gỡ nhau, vui vẻ trong ngày hội với những niềm cảm xúc phấn khởi sau một vụ mùa vất vả, mừng thành quả lao động sắp được thu hoạch. Lễ hội còn thể hiện sự đoàn kết gắn bó cộng đồng của đồng bào trong trong làng nói riêng và cộng đồng các dân tộc khác sống cận kề nói chung.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG LỄ CÚNG LÚA MỚI CỦA DÂN TỘC B’RÂU
Tuốt lúa
 
Lấy bông lúa thiêng về làm lễ thức tắm cho bông lúa
 
Rang và kiểm tra lúa
Giã lúa để lấy cốm
 
Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng trâu trong lễ hội
 
Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng tại kho lúa
Thầy cúng thực hiện nghi thức bôi tiết gà vào chiêng Tha
Thầy cúng thực hiện lễ thức tắm cho bông lúa

Tác giả bài viết: Bài và ảnh: Mai Văn Nhưng, Nguyễn Văn Hưng

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Hệ thống trưng bày

 *Vài nét về Bảo tàng tỉnh KonTum.  Bảo tàng tỉnh được tách ra từ Trung tâm Bảo tàng – Thư viện tỉnh, thành lập tháng 3/1998. Cũng trong năm đó, ngày 8/8/1998, UBND tỉnh ký quyết định số 1471 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Sau một quá trình chuẩn bị và nhiều lần...

Video chọn lọc