11:45 ICT Thứ sáu, 27/04/2018

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 404

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 19024

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 229235

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu

KHÍ PHÁCH ĐỒNG CHÍ TRƯƠNG QUANG TRỌNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT NGÀY 12/12/1931 TẠI NHÀ LAO KON TUM

Thứ hai - 26/03/2018 16:22
Nhà lao Kon Tum (Pénitencier De Kon Tum) gồm nhà Lao trong (lao trong thị xã – Lao thường phạm) được xây dựng khoảng năm 1913 và nhà lao ngoài (hay còn gọi là lao Kẽm, lao Sắt, lao Mới, lao Cầu mới) được xây dựng khoảng năm 1930. Là địa điểm Di tích ghi dấu sự kiện chính trị sự ra đời của chi bộ Đảng đầu tiên tại Kon Tum (05/9/1930); Nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với tù chính trị bị bắt trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) tù đày tại Kon Tum; Nơi diễn ra cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 (8 người chết, 8 người bị thương); Cuộc đấu tranh tuyệt thực ngày 16/12/1931 (7 người chết, 7 bị thương). Đây là những sự kiện lịch sử lớn, đã gây chấn động cho thực dân Pháp tại Kon Tum cũng như toàn cõi Đông Dương, tác động mạnh mẽ tới phong trào cách mạng Kon Tum lúc bấy giờ cũng như nhiều năm sau này.

 
Nhà lao Kon Tum (Ngục Kon Tum) -  Nơi giam giữ các tù chính trị năm 1930 - 1931
 
Tại nhà Lao Kon Tum thực dân Pháp đã giam cầm, đày ải trên 500 lượt tù chính trị (1930-1931). Trong số đó có rất nhiều cán bộ trung, cao cấp của Đảng, những cán bộ chủ chốt của phong trào cách mạng các tỉnh miền Trung giai đoạn 1930 – 1933, như các đ/c Bùi San, Lê Văn Hiến, Ngô Đức Đệ, Trương Quang Trọng, Lê Viết Lượng…
Dưới chế độ nhà tù thực dân tàn ác, sự lao động khổ sai mở tuyến đường 14, đã có 210/tổng số 500 lượt tù chính trị đã bị chết. Nhưng các đồng chí tù chính trị đã thể hiện phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản đó là tinh thần đấu tranh kiên quyết dũng cảm, sự kiên trung, bất khuất “Chết một người để cứu muôn người” trước mũi súng của quân thù. Các đồng chí đã nêu cao tinh thần yêu quê hương đất nước, đùm bọc, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn thử thách, vượt qua những trận đòn roi của kẻ thù. Cùng nhau trao đổi, truyền dạy kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, biến nhà tù của chế độ thực dân thành trường học cách mạng, nâng cao trình độ lý luận, chính trị, văn hóa… Nổi lên trong tinh thần đó có “Khí phách đồng chí Trương Quang Trọng trong cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 tại nhà lao Kon Tum”.

 
Đ/c Trương Quang Trọng người hy sinh đầu tiên trong
cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 tại nhà lao Kon Tum

Đồng chí Trương Quang Trọng, người Bí thư đầu tiên của Tỉnh bộ Thanh niên cách mạng Đồng chí hội tỉnh Quảng Ngãi, một trong 4 đại biểu của Kỳ bộ Trung kỳ đi dự Đại hội toàn quốc của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (VNTNCMĐCH) tại Hương Cảng (Trung Quốc) và là một trong những đảng viên Đảng cộng sản đầu tiên của quê hương núi Ấn, sông Trà.
          Đồng chí Trương Quang Trọng sinh năm 1906, tại xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong một gia đình khá giả. Thân sinh là cụ Trương Quang Nhự. Thuở nhỏ, Trương Quang Trọng nổi tiếng thông minh học giỏi. Học xong trường làng, ông tiếp tục học lên trường tỉnh, sau đó ra học Ban thành chung (trường Quốc học Huế). Tại Huế, Trương Quang Trọng đã kết bạn với hai người đồng hương mà sau này đã trở thành những người đồng chí của ông là Phạm Văn Đồng và Nguyễn Thiệu. Ông cùng các bạn đồng học tổ chức Hội học sinh “Ái hữu Trung kỳ” - Tổ chức thanh niên có xu hướng yêu nước và cách mạng. Hình thức hoạt động của Hội là lưu truyền các áng văn thơ yêu nước của các nhà cách mạng tiền bối lúc đó như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…
          Năm 1923, tốt nghiệp Ban Thành Chung, Trương Quang Trọng ra Hà Nội học tại Trường Bưởi, sau đó ông vào học tại khoa y, trường Cao đẳng Đông Dương (nay là Đại học y Hà Nội). Đầu năm 1926, đang học năm thứ hai, Trương Quang Trọng cùng với Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thiệu…tham gia phong trào đấu tranh đòi để tang cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp phát hiện, buộc thôi học.
Mùa hè năm 1926, Trương Quang Trọng trở về Quảng Ngãi cùng các đồng chí của mình tích cực hoạt động cách mạng và thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đảng; Đến đầu năm 1927, tổ chức yêu nước này chuyển sang Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chí hội (VNTNCMĐCH) và Trương Quang Trọng được cử làm Bí thư đầu tiên của Tỉnh bộ VNTNCMĐCH tỉnh Quảng Ngãi. Cũng năm này, Trương Quang Trọng được Tỉnh bộ cử đi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây ông đã thay mặt những người cách mạng Quảng Ngãi phát biểu nguyện vọng chuyển VNTNCMĐCH Quảng Ngãi thành tổ chức Cộng sản.
          Tháng 5/1929, Trương Quang Trọng lại được cử làm đại biểu của Tỉnh bộ Quảng Ngãi, một trong 4 đại biểu của Kỳ bộ Trung kỳ đi dự Đại hội toàn quốc của VNTNCMĐCH tại Hương Cảng (Trung Quốc). Tại Đại hội này, ông bày tỏ nguyện vọng thống nhất các tổ chức cách mạng và tích cực ủng hộ việc thành lập An Nam Cộng Sản Đảng, ngày 22/5/1929, Trương Quang Trọng cùng Nguyễn Thiệu, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Văn Đồng, Phan Trọng Đình thành lập nhóm An Nam Cộng sản Đảng Trung Kỳ, xúc tiến chuẩn bị thành lập Tỉnh bộ An Nam Cộng Sản Đảng ở Quảng Ngãi. Giữa lúc phong trào Các mạng Quảng Ngãi đang lên, bao công việc, bao dự định đang đòi hỏi nhà cách mạng trẻ tuổi Trương Quang Trọng phải giải quyết thì địch đã phát hiện và ráo riết khủng bố. Ngày 19/8/1929, ông và 20 đồng chí của mình bị địch bắt, giam chờ xét xử. Trong lúc bị giam giữ, Trương Quang Trọng đã suy nghĩ rất nhiều để tìm ra kẻ phản bội và tìm cách bịt đầu mối, bảo vệ những đồng chí còn đang hoạt động bí mật ở bên ngoài. Chính ông đã viết một bài báo, bí mật gửi ra ngoài nhờ đăng trên báo Thần Chung Sài Gòn để đánh lạc hướng bọn địch, bịt đầu mối, để anh em bên ngoài yên tâm tiếp tục hoạt động. Ngày 26/10/1929, theo lệnh của thực dân Pháp “Hội đồng đề hình” triều đình Huế đã đưa ông ra xét xử và kết án ông 9 năm tù khổ sai, 4 năm quản thúc vì tội “Âm mưu chống lại an ninh quốc gia” và giam giữ ông tại nhà lao Quảng Ngãi.
          Đầu năm 1931, cùng với các đồng chí của mình như Hồ Độ, Lê Trọng Kha, đồng chí Trương Quang Trọng bị đưa vào nhà lao Quy Nhơn. Tháng 6/1931, ông cùng với đồng chí của mình bị đày lên giam tại nhà lao Kon Tum (lao ngoài) với số tù 303. Nhà lao Kon Tum lúc này, được bổ xung thêm số cán bộ đảng viên cốt cán trung cao cấp trẻ tuổi đã từng tham gia tổ chức tiền thân của Đảng, tham dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu. Đây là một chất lượng tốt, chất lượng quý cho việc lãnh đạo đấu tranh tại đây.
          Tại nhà lao Kon Tum, các tù chính trị bị đày đi lao động khổ sai làm đương 14 từ tháng 12/1930 đến tháng 5/1931 vừa kết thúc. Được tận mắt thấy cảnh gần 100 tù sống sót từ công trường làm đường 14 trở về chỉ còn lại là những thây ma da bọc xương, tai nghe biết bao tội ác của thực dân Pháp và lũ tay sai với nhà phạt, chuyện trên 200 từ chính trị bị chết thảm thương trên công trường đường 14 làm cho ông rất thương xót, căm phẫn bọn thực dân. Cùng với cán bộ đảng viên cốt cán, lực lượng tù chính trị từ công trường đường 14 về tại nhà lao Kon Tum (lao ngoài), khoảng tháng 7/1931, đồng chí Trương Quang Trọng cùng các đồng chí: Hồ Độ (Quảng Ngãi) – số tù 302; Lê Viết Lượng – số tù 296, Nguyễn Huy Lung – số tù 299 (Hà Tĩnh); Đặng Thái Thuyến – số tù 297, Ngô Đức Đệ - số tù 358 (Nghệ An) thành lập Ban lãnh đạo nhà lao Kon Tum. Đây là một tập thể kiên cường và giàu kinh nghiệm, để lãnh đạo anh em tù chính đấu tranh trong thời gian tới.
 Ban lãnh đạo nhà lao đã phân tích, nhận định và hạ quyết tâm phải làm gì để tự cứu sống “Ta phải suy nghĩ kỹ và phải khẩn trương trả lời câu hỏi này” và hạ quyết tâm “Cái chết đã gần kề, cái chết không sao tránh khỏi đặt ra trước mắt chúng ta trách nhiệm phải tự cứu sống, muốn cứu sống không còn con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh mà Đảng đã vạch ra. Muốn đảm bảo cuộc đấu tranh thắng lợi nhất định chúng ta phải làm cho anh em đoàn kết nhất trí, có quyết tâm cao. Phải đấu tranh kiên quyết bền bỉ, có kế hoạch chu đáo, bởi vì cuộc đấu tranh này không những đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ giết người dã man đối với tù chính trị, phải thay vào đó  một chế độ ưu đãi tù chính trị, mà còn có ý nghĩa chống lại âm mưu chiến lược chống cộng của thực dân Pháp mà toàn quyền Pasquier năm 1930 đã ra mật lệnh “Phải đàn áp phong trào cộng sản trên toàn cõi Đông Dương”. Do đó mà tất cả các nhà đày như Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Buôn Ma Thuật chẳng khác gì nhà đày Kon Tum, đâu đâu chúng cũng thi hành một chế độ giết người thảm khốc, chỉ có khác nhau ở chỗ nơi nào giết được nhiều người hơn và nhanh hơn thôi. Cuộc đấu tranh này của ta bao gồm ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa chiến lược sâu xa như vậy, thì chắc chắn địch sẽ phản ứng điên cuồng, dù sao ta cũng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để đổi cái chết lấy cái sống, dù ta phải chết một để cứu sống mười người, hoặc phải chết mười người để cứu ngàn vạn người thì đó là lẽ phải, là lẽ sống, là chính nghĩa, đó cũng là cái tất yếu của người cách mạng cộng sản, ta không thoái thác, ta không chờ ai làm thay cho mình, nếu mình muốn sống. Ngược lại đứng trước cái chết mà ta do dự, ta không gan vàng dạ sắt, đấu tranh lưng chừng, không đúng mức yêu cầu của tình hình đòi hỏi thì địch sẽ có cớ để giết hại ta nhiều hơn nữa… Hoặc ta sợ sệt, thủ tiêu đấu tranh thì rõ ràng là ta nằm chờ chết, và rõ ràng địch sẽ vui mừng do đã tạo ra được cái lò giết người rất có hiệu quả trong việc thực hiện chủ chương tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản…”
Đồng chí Trương Quang Trọng, Nguyễn Huy Lung, Hồ Độ được phân công phụ trách xây dựng nội bộ, tư tưởng và tổ chức. Trong quá trình công tác xây dựng nội bộ, rèn luyện thử thách đấu tranh, tháng 9/1931 đồng chí Trương Quang Trọng đã xung phong tham gia Đội quyết tử gồm 12 đồng chí có tinh thần đấu tranh kiên quyết nhất, có trách nhiệm cao nhất. Đồng thời đồng chí Trọng đã xác định con đường đấu tranh của mình là hoàn toàn tự nguyện huy sinh trong những trường hợp phải đối phó với quân thù.
Để thăm dò thái độ của địch đối với tù chính trị, tháng 10/1931 Ban lãnh đạo nhà lao làm một lá đơn gửi cho công xứ Jerusalemy yêu cầu cải thiện chế độ lao dịch, chế độ ăn uống, bỏ chế độ bắn giết… Sau khi đưa đơn, địch bắt một số đồng chí án trung thân đưa đi đày tại nhà tù Lao Bảo, tỉnh Quảng trị trong đó có đồng chí Lê Viết Lượng – Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên. Ban lãnh đạo nhà Lao nhận định “Ta đưa đơn yêu cầu nhà cầm quyền sửa đổi chế độ làm việc bình thường, nhưng địch không đếm xỉa gì, chỉ trả lời bằng cách bắt một số người đi chỗ khác, vì cho rằng những người cộng sản cao cấp này, những người nặng án này có thể gây rắc rối. Việc trả lời ấy của tên công sứ một lần nữa chứng tỏ chúng vẫn cứng rắn trong việc thi hành chính sách diệt cộng, chứ không bao giờ nhân nhượng một cách dễ dàng với những lời thỉnh cầu xin xỏ. Cách trả lời ấy của tên công sứ cũng giúp ta một lần nữa khảng định rằng: Muốn thay đổi một chính sách thù địch và toàn diện như hiện nay thì không thể nào dùng cách xin xỏ mà được, trái lại phải liên tục đấu tranh kiên quyết, dũng cảm.
Ngày giờ lịch sử đã đến, đầu tháng 12/1931 Ban lãnh đạo nhà lao được tin địch đang chuẩn bị đưa tù chính trị lên Đăk Pét lần thứ 2. Đồng chí Trương Quang Trọng cùng với các đồng chí trong Ban lãnh đạo nhà lao, bí mật làm công tác tư tưởng cho anh em: Đi đăk Tao thì chết, mà chết một cách rất đau đớn, thê thảm, chết sau khi đã chịu trăm cay ngàn đắng. Không đi Đăk Tao thì phải liều chết, mà thà chết ở Kon Tum còn hơn “Phản đối đi Đăk Tao, Đăk Pét”; “Phản đối chính sách tàn ác của chính quyền thực dân đối với chính trị phạm”. Tư tưởng đấu tranh kiên quyết, dũng cảm và cũng trở thành triết lý sống cao đẹp của người chiến sỹ cộng sản Trương Quang Trọng tâm sự với bạn tù trong đêm trường thanh vắng “Trên đường đời chúng ta không phải là không hy vọng sống, nhưng vì đã đến bước cùng, ta cần phải hy sinh ít nhiều người, để mưu sự sống cho anh em. Trước cái chết, ta không nhường lại cho ai được nữa, ta phải nhận lấy, vui lòng nhận lấy để cho sau khi ta chết rồi, họa may mấy trăm anh em mới còn phương sống”

 
Tranh sơ dầu tái hiện lại cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 của tù chính trị tại nhà lao Kon Tum
 
Tư tưởng, khí phách ấy của đồng chí Trương Quang Trọng đã được khảng định trong Cuộc đấu tranh lưu huyết sáng ngày 12/12/1931, thực dân Pháp đưa xe, đưa lính vào nhà lao kêu tên 40 anh em đưa đi Đăk Pét. Tất cả tù chính trị đã chạy vào nhà lao đóng chặt cửa lại hô vang các khẩu hiệu “Phản đối đi Đăk Pét, Phản đối đi Đăk Pét; “Phản đối làm đường”… khi viên đội Moulec hỏi “Tại sao chúng bay không đi”?. Đã được phân công trước, đồng chí Nguyễn Huy Lung (Nguyên bí thư Thị uỷ Hà Tĩnh – số tù 299) đứng ra trả lời: “Vì năm trước đi làm đường Đăk pét chúng tôi đã bị hãm hại dã man, bị giết chết 2/3, lần này lại đi nữa cho chết hết sao?”.

 
Tranh sơ dầu tái hiện cảnh tên đội Moulec bắn đồng chí Trương Quang Trọng
trong cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 tại nhà lao Kon Tum
 
          Moulec nói: “Nếu chúng bay không đi chúng bay cũng sẽ chết”. Đồng chí Nguyễn Huy Lung đanh thép trả lời: “Phải, chúng tôi không đi cũng chết, nhưng thà chết ở đây còn khoẻ thân hơn lên Đăk pét bị trăm điều khổ sở rồi mới chết!”. Sau đó đồng chí Lung tiếp tục khích lệ anh em đấu tranh, hô vang các khẩu hiệu. Moulec nhìn mặt Lung, nhớ số tù rồi về báo với tên công sứ Kon Tum. Mấy phút sau công sứ, giám binh, quản đạo Kon Tum cùng bọn lính ùn ùn kéo đến. Moulec tay cầm sung sáu tiến vào nhà lao hỏi: "Òu est it 299?” (Thằng 299 đâu?). Mặc dù không phải số tù của mình (số tù của ông là 303), đồng chí Trương Quang Trọng vẫn dũng cảm tiến lên sát của, tay lần lần mở cúc áo, tay chỉ vào ngực mình hô dõng dạc “Levoici” (Nó ở đây!). Tên Moulec bóp cò, viên đạn bắn trúng ngực, đồng chí anh dũng hy sinh ngay tại chỗ khi vừa tròn 25 tuổi.
          Trong cuộc đấu tranh này đồng chí Trương Quang Trọng tự xưng tên mình ra để chết thay cho bạn, một cử chỉ anh hùng, một hành động hiếm có trong lịch sử đấu tranh cách mạng. Đồng chí Trương Quang Trọng được các bạn tù nhận xét: Trọng bình thường là người ôn hòa, thuần hậu, không hay nói, nhiều đồng chí đã cho ông như “Con gái nhà lành”, thế mà khi đấu tranh, trước kẻ địch và cận kề cái chết ông giữ tư tưởng rất kiên quyết, không khoan nhượng với chúng đúng như tư tưởng và khí phách, triết lý sống cao đẹp của người chiến sỹ cộng sản. Trước mắt quân thù, đồng chí Trương Quang Trọng nhận cái chết về mình thay cho bạn đã làm cho kẻ địch rởn tóc gáy rùng mình. Hành động hào hùng ấy của đồng chí Trọng nêu một tấm gương bất tử sáng ngời tình đồng chí, nghĩa đồng tâm cho con cháu muôn đời noi theo. Gương hy sinh của đồng chí Trương Quang Trọng, càng thúc dục anh em kiên quyết đấu tranh giành thắng lợi, người người không sợ chết, áp sát cửa hô vang “Đả đảo bắn giết dã man”; “Phản đối đi làm đường Đăk Pét”. Tư tưởng đấu tranh của đồng chí Trọng “Chết để sống”. “Chết một để cứu mười”, “Chết mười để cứu muôn ngàn người sau” được thể hiện một cách chói lọi trước mặt bọn thực dân hung tàn. Noi gương đồng chí Trọng, đồng chí Đặng Thái Thuyến, Nguyễn Huy Lung, Lê Trọng Kha, Võ Am, Nguyễn Phi, Lương Thu Tâm, Phạm Thoan tiếp tục đứng lên đấu tranh và cũng đã bị hy sinh. Máu đào của đồng chí Trương Quang Trọng và các đồng chí khác đã góp phần tô thắm thêm cờ giải phóng, góp phần buộc địch phải thay đổi chế độ làm việc, bỏ hẳn chế độ bắn giết “Bỏ chế độ chết thành chế độ sống”, cải thiện chế độ ăn uống, thuốc men và quan trọng hơn cả“Chết mười để cứu muôn ngàn người sau”. Những thắng lợi này rất quan trọng, rất cơ bản, là thắng lợi lịch sử mang tính chiến lược trong nhà tù đế quốc mà cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12/12/1931 tại nhà lao Kon Tum đã chứng tỏ điều đó.

 
Mộ các chiến sĩ cánh mạng bị thực dân Pháp đàn áp hy sinh trong
cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931, tại nhà Ngục Kon Tum

 
          Đúng như nhà văn Lỗ Tấn đã viết: “Người chết chỉ thật sự chết khi không còn sống trong lòng người sống”. Sự hy sinh của Trương Quang Trọng đã trở thành bất tử. Để ghi nhớ công ơn của đồng chí Trương Quang Trọng, tỉnh Kon Tum đã đặt tên đường mang tên đồng chí. Di tích lịch sử Nhà lao Kon Tum nơi ghi dấu khí phách đấu tranh cùng với những di vật gốc của đồng chí Trương Quang Trọng, được Bộ Bộ Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích cấp Quốc gia. Hiện nay di tích là địa chỉ đỏ, tiêu biểu của tỉnh Kon Tum, góp phần quan trọng trong việc giáo dục ý trí kiên cường bất khuất, truyền thống đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của ông cha cho các thế hệ trẻ Kon Tum hôm nay và mai sau. Lịch sử đấu tranh cách mạng tỉnh Kon Tum đã đánh giá rất cao những đóng góp, hy sinh của đồng chí. Bởi chính đồng chí đã dùng máu của mình để mở đầu cho dòng lịch sử đấu tranh hào hùng cho những năm tiếp theo của Đảng bộ tỉnh Kon Tum./.

 
Quần thể Khu di tích nhà ngục Kon Tum được tỉnh Kon Tum đầu tư tôn tạo và phát huy
giá trị trong việc giáo dục truyền thống đấu tranh cánh mạng cho thế hệ trẻ hôm nay
 
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Phóng sự Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến, xuất bản năm 1938, tái bản năm 1958 và 1986 do UBND thị xã Kon Tum, 2001 do Bảo tàng tổng hợp tỉnh.
          2. Hồi ký Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, tác giả viết năm 1985, xuất bản năm 1995, Bảo tàng tổng hợp Kon Tum tái bản năm 2007.
          3. Bài viết Người ngã xuống đầu tiên trong cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12/12/1931 tại ngục Kon Tum của tác giả Vũ Thị Mai – Nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh.
          Cùng một số bài viết đăng trên sách báo, tạp chí, và Internet.
Kon Tum, ngày 05 tháng 10 năm 2018                           

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Quang

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Hệ thống trưng bày

 *Vài nét về Bảo tàng tỉnh KonTum.  Bảo tàng tỉnh được tách ra từ Trung tâm Bảo tàng – Thư viện tỉnh, thành lập tháng 3/1998. Cũng trong năm đó, ngày 8/8/1998, UBND tỉnh ký quyết định số 1471 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Sau một quá trình chuẩn bị và nhiều lần...

Video chọn lọc