09:12 ICT Thứ hai, 11/12/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay : 350

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4281

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 158187

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu

Hệ thống nhà tù của thực dân Pháp thiết lập trong quá trình cai trị tại Việt Nam và các chi bộ Đảng cộng sản thành lập, hoạt động trong nhà tù từ năm 1858 – 1945

Thứ hai - 20/11/2017 13:57
 
Nhà tù Côn Đảo và Chi bộ Đảng cộng sản ra đời tại nhà tù Côn Đảo:
 

 
Di tích Nhà tù Côn Đảo, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (ảnh sưu tầm)
 
Ngày 01/2/1862, Thống đốc Bonard ở Nam Kỳ ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo - "Địa ngục trần gian". Đây là hệ thống nhà tù với nhiều khu vực biệt giam Banh I, II và chuồng cọp. Đến tháng 6/1930, tại nhà tù Côn Đảo có gần 2.000 tù chính trị bị bắt giam. Riêng ở Banh I, với hơn 1.000 tù chính trị án khổ sai, trong đó có các đồng chí như Tống Văn Trân, Nguyễn Hớt, Tạ Uyên, Tôn Đức Thắng. Với kinh nghiệm đấu tranh, Đồng chí Tôn Đức Thắng đã bàn với những người Cộng sản thành lập “Hội những người tù đỏ” do đồng chí làm Hội trưởng để lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù. Trên cơ sở nhóm hạt nhân đã được hình thành cuối năm 1931, khoảng đầu năm 1932 chi bộ Đảng cộng sản ở Côn Đảo được thành lập tại khám Chỉ Tồn, Banh I, lúc đầu có chừng 20 đảng viên do đồng chí Nguyễn Hội làm Bí thư, chi uỷ gồm các đồng chí: Tôn Đức Thắng, Tống Phúc Chiểu, Tạ Uyên, Tống Văn Trân.... Chi bộ xác định những nhiệm vụ đấu tranh chủ yếu trong thời kỳ này là: Lãnh đạo đấu tranh trong tù; Giáo dục, bồi dưỡng lý luận cho nhau; Tuyên truyền, giác ngộ binh lính, giám thị; Liên hệ với Đảng ở đất liền và tổ chức trốn tù.
 
Nhà tù Hỏa Lò và Chi bộ Đảng cộng sản ra đời tại nhà tù Hỏa Lò:
 

 
Di tích Nhà tù Hỏa, số 1 phố Hỏa Lò, thành phố Hà Nội (ảnh sưu tầm)
 
Nhà tù Hỏa Lò do thực dân Pháp xây dựng năm 1896 và lấy tên là “Nhà tù Trung ương”. Do tính chất đặc biệt khẩn cấp, công trình xây dựng nhà tù Hỏa Lò được tiến hành ngay trong năm 1896”. Nhà tù Hỏa Lò được thực dân Pháp đặt vào vị trí quan trọng nhất trong mưu đồ trấn áp những người đối kháng chế độ thuộc địa. Vì vậy, chúng đã cho xây dựng nhà tù này với quy mô lớn và kiên cố vào loại bậc nhất ở Đông Dương. Năm 1930-1931, số lượng các chiến sỹ cộng sản bị bắt giam tăng cao, trong đó nhiều đồng chí đã từng giữ vai trò lãnh đạo trong các chi bộ Đảng bên ngoài. Cuối năm 1931 đầu năm 1932, chi bộ Đảng ở nhà tù Hoả Lò thành lập, do đồng chí Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) được cử làm Bí thư chi bộ. Ngay từ khi thành lập, chi bộ Đảng nhà tù Hoả Lò đã xác định nhiệm vụ chủ yếu là: Lãnh đạo đấu tranh trong tù; giáo dục, bồi dưỡng lý luận cho tù nhân; tuyên truyền giác ngộ binh lính và giám thị; liên hệ với tổ chức Đảng bên ngoài để tổ chức đấu tranh giành quyền sống… Hoạt động của chi bộ diễn ra trong điều kiện bí mật, đồng chí nào gia nhập chi bộ rồi mới biết và chỉ biết trong phạm vi tổ Đảng. Để giữ bí mật, tên chi bộ (1932) gọi là "Tổ chức bên trong".
 
Nhà tù Sơn La và Chi bộ Đảng cộng sản ra đời tại nhà tù Sơ La:
 

 
Di tích Nhà tù Sơn La, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơ La (ảnh sưu tầm)
 
Nhà tù Sơn La được thực dân pháp xây dựng năm 1908 với diện tích 500 m2. Về sau Nhà tù mở rộng gấp 3 lần so với ban đầu (từ 500 m2 lên 1.500 m2) để “Đón” các đợt người tù Cộng Sản từ nhà giam Hỏa Lò bị "Phát vãng" lên Sơn La, và số tù chính trị cứ thế tăng dần. Trong tài liệu bút tích của Công sứ Sơn La Xanh - Pu - Lốp gửi Thống sứ Bắc kỳ có đoạn: "Chỉ cần một thời gian không lâu, sốt rét, bệnh tật và công việc khổ sai sẽ tiêu hao chúng một cách êm thấm …". Tàn nhẫn hơn, chúng dùng chế độ vật chất để mua chuộc biến những người dân lạc hậu thành hàng rào bao vây nhà tù, ngăn cách những người tù chính trị với đông đảo quần chúng nhân dân và lợi dụng sự khác nhau về phong tục tập quán, về ngôn ngữ để ngăn cản tuyên truyền cách mạng của các tù chính trị.
  Từ năm 1930 - 1939 đã có nhiều đoàn tù bị Thực Dân Pháp đày lên Nhà tù Sơn La, nhưng chưa thành lập được tổ chức Đảng bởi vì chưa có kinh nghiệm lãnh đạo, chưa gây được cảm tình với binh lính, gây dựng một cơ sở cách mạng bên ngoài. Vì vậy đến năm 1939 đã có nhiều đoàn tù bị đày lên Sơn La trong đó có các đồng chí nhiều kinh nghiệm hoạt động cách mạng có các đồng chí đã bị bắt và bị giam cầm ở các nhà tù khác như Côn Đảo, Hỏa Lò. Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách lúc này trong nhà tù Sơn La phải có một chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo và tổ chức đấu tranh, vào cuối tháng 12/1939, các đảng viên trong nhà tù bí mật triệu tập hội nghị để thảo luận việc thành lập chi bộ lâm thời, gồm 10 người, và cử ông Nguyễn Lương Bằng làm bí thư chi bộ. Do yêu cầu công tác lãnh đạo ngày càng cao đối với nhà tù, tháng 2/1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chi bộ chính thức. Theo đề nghị của ông Tô Hiệu, chi bộ đã nhất trí cử ông Trần Huy Liệu làm bí thư chi bộ và ông Tô Hiệu làm chi uỷ viên.
          - Tháng 2 năm 1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chính thức đ/c Trần Huy Liệu được bầu làm bí thư. Tháng 5/1940 đại hội chi bộ được tổ chức thảo luận, nội dung các chủ trương công tác và bầu ra Ban chi ủy, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư, chi bộ đề ra những chủ trương đường lối hoạt động trong tù đề ra phương hướng đấu tranh đồng thời tìm cách bắt liên lạc với tổ chức đảng bên ngoài nhà tù. Đầu năm 1943, chi bộ Nhà tù Sơn La đã chính thức thành lập được 2 cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù đầu tiên ở Sơn La. 
 
Nhà lao Thừa Phủ và chi bộ Đảng cộng sản tại nhà lao Thừa Phủ:
 

 
Di tích Nhà lao Thừa Phủ, số 1 Lê Lai, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế  (ảnh sưu tầm)
Nhà lao Thừa Phủ nguyên là nơi ở của đơn vị Thuỷ binh nhà Nguyễn, được thực dân Pháp và chính quyền tay sai biến thành nhà giam chính của Phủ Thừa Thiên năm 1899. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 - 1931 thực dân Pháp và bè lũ tay sai ráo riết lùng sục, bắt bớ, khủng bố những đảng viên cộng sản. Lao Thừa Phủ trở thành nơi thực dân Pháp dùng để giam cầm và tra tấn nổi tiếng tàn ác những người cộng sản ở Huế. Thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn tiến hành nhiều cuộc vây ráp, lùng sục, bắt bớ các đảng viên cộng sản và quần chúng trung kiên. Chỉ sau một thời gian ngắn hầu hết các đảng viên cộng sản, cán bộ cốt cán bị sa vào tay giặc, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng, Trương Đình Trung, Bửu Ba… bị bắt. Chúng giam các đồng chí ở lao Thừa Phủ, ở trong nhà tù, mặc dù phải chịu những cực hình tra tấn và sự kiểm soát gắt gao của định, song các đồng chí vẫn kiên quyết giữ vững khí tiết của người cộng sản. Năm 1931 chi bộ lao Thừa Phủ được thành lập do đồng chí Lê Viết Lượng làm bí thư. 
 
Nhà Lao Vinh và chi bộ Đảng cộng sản ra đời tại nhà lao Vinh:
 

 
Di tích Nhà lao Vinh, số 10, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (ảnh sưu tầm)
 
Nhà lao Vình nằm trong thành phố cổ Nghệ An, được xây dựng bằng đất năm 1804. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà Nguyễn cho xây dựng kiên cố bằng gạch và đá ong. Thành tuy có ảnh hưởng của lối xây dựng thành trì kiểu Vô băng (Vauban) của Pháp được du nhập vào nước ta từ thế kỷ XVIII, nhưng vẫn giữ được cấu trúc thành trì truyền thống kiểu phương Đông. Nhà lao Vinh là nơi đã từng giam giữ nhiều chí sỹ văn thân Cần Vương yêu nước tiêu biểu như cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, cụ Hồ Bá Kiện, bà Trần Thị Trâm, Đội Quyên, Đội Phấn, ông Nguyễn Sinh Khiêm, bà Nguyễn Thị Thanh. Từ cuối thế kỷ XIX, khi phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ An phát triển ngày càng cao thì số lượng tù chính trị bị bắt về giam tại nhà lao Vinh hàng ngìn chiến sỹ cộng sản kiên cường như đồng chí: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Duy Trinh, Siêu Hải, Hoàng Trọng Trì, Lê Viết Thuật... Nhà lao Vinh đã trở thành lò luyện thép “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” nơi rèn luyện tinh thần, nghị lực, nhân cách, ý chí của người cách mạng.
Vượt qua khó khăn, nguy hiểm và sự theo dõi, giám sát của bọn cai ngục, tháng 6/1930, chi bộ Đảng cộng sản tại nhà Lao Vinh được thành lập do đồng chí Hoàng Trọng Trì làm bí thư chi bộ. Với sức mạnh đoàn kết, chi bộ Đảng nhà lao Vinh đã lãnh đạo các đồng chí trong tù tổ chức các cuộc đấu tranh chống lại chế độ hà khắc của nhà tù. Tù chính trị ở nhà lao Vinh đã biến nhà tù thành trường học cách mạng, coi nhà tù đế quốc là một trận tuyến đấu tranh mới.

Nhà tù Lao Bảo và Ban Chấp hành Trung ương nhà tù Lao Bảo
 

 
Di tích Nhà tù Lao Bảo,  thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trịá, tỉnh Quảng thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị (ảnh sưu tầm)
 
Nhà tù Lao Bảo là một trong những nhà tù lớn nhất Đông Dương được thực dân Pháp xây dựng năm 1908, ngay trên khu đất nguyên là Bảo Trấn lao dưới thời Nguyễn. Sau năm 1930, do phong trào cách mạng chống Pháp ngày càng lan rộng dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam nổ ra khắp nơi. Kết quả của các cuộc đàn áp khủng bố trắng mà thực dân Pháp đã tiến hành ở Trung kỳ đã làm cho nhiều chiến sĩ cách mạng, đảng viên Cộng sản lần lượt bị sa vào tay giặc và bị đày lên Lao Bảo (như: Phạm Trọng Bình, Hoàng Anh, Trần Hữu Dực, Lê Thế Tiết, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Võ Sĩ, Nguyễn Ðức Thiên, Lê Thế tiết, Lê Tất Ðắc, Võ Thúc Ðồng, Hà Phú Hương, Phạm Thế...) làm cho đội ngũ tù chính trị ngày càng đông đảo. Ðể đáp ứng việc giam giữ tù nhân án nặng, tù chính trị phạm tích cực đấu tranh trong các nhà lao Vinh, Thừa phủ...khâm sai Trung kỳ Saten chỉ thị cho công sứ Quảng Trị mở rộng quy mô và kiên cố hóa nhà tù Lao Bảo.
Đây là một trong những nhà tù lớn nhất Đông Dương, đã giam cầm các nhà yêu nước, chiến sĩ Cộng sản của vùng Trung Bộ. Với khí hậu khắc nghiệt, nạn muỗi rừng, lũ quét cùng với chế độ nhà tù hà khắc như: tra tấn dã man, lao dịch nặng nề; ăn uống tồi tệ, đau ốm không có thuốc men đã hành hạ thể xác con người đến chết dần, chết mòn…,  nhà tù Lao Bảo trở thành địa ngục trần gian đối với tù nhân. Tuy nhiên, bất chấp gông cùm, xiềng xích và sự tàn bạo của bọn cai ngục, với phương châm biến nhà tù thành trường học cách mạng, tôi luyện ý chí, các thế hệ tù nhân. Năm 1932 – 1933, tại nhà tù Lao Bảo các đồng chí Đảng viên đảng cộng sản Trần Hữu Dực, Lê Viết Lượng, Chu Văn Biên, Trương Văn Lĩnh đã thành lập Ban chấp hành Trung ương nhà đày Lao Bảo gọi tắt là “Hội tù nhân”.

Nhà lao Kon Tum và chi bộ Đảng cộng sản tại nhà lao Kon Tum:
 

 
Di tích Nhà Lao Kon Tum đường Trương Quang Trọng, tổ 1 phường 
Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
 
Nhà lao Kon Tum (Pénitencier De Kon Tum) gồm nhà Lao trong (lao trong thị xã – Lao thường phạm) được xây dựng khoảng năm 1913 và nhà lao ngoài được xây dựng khoảng năm 1930 (hay còn gọi là lao Kẽm, lao Sắt, lao Mới, lao Cầu mới).
Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 - 1931 thực dân Pháp và bè lũ tay sai ráo riết lùng sục, bắt bớ, khủng bố những đảng viên cộng sản. Từ tháng 12/1930 – 4/1931, thực dân Pháp đưa tù chính trị từ nhà lao Vinh, Hà Tĩnh, Nha Trang lên giam tại nhà Lao Kon Tum 295 tù chính trị. Trong số đó có rất nhiều cán bộ trung, cao cấp của Đảng, như các đ/c Bùi San, Lê Văn Hiến, Ngô Đức Đệ, Trương Quang Trọng, Lê Viết Lượng… Với âm mưu tách tù chính trị ra khỏi phong trào đấu tranh cách mạng, trừng phạt bằng việc lao động khổ sai làm đường 14, để giết dần giết mòn tù chính trị. Bất chấp sự cai trị hà khắc của chế độ nhà tù thực dân, từ hạt giống đỏ tại nhà lao Kon Tum, đồng chí Ngô Đức Đệ, đã cảm hóa được đội ngũ cai tù. Ngày 25/9/1930, chi bộ Đảng Cộng sản tại nhà Lao Kon Tum được thành lập gồm 4 đồng chí: Đồng chí Ngô Đức Đệ (Bí thư), Huỳnh Đăng Thơ (đội Thơ), Huỳnh Liễu (cai Liễu), Nguyễn Cừ (cai Cừ).
Tại nhà lao Kon Tum từ năm 1930 – 1933, dưới chế độ nhà tù thực dân tàn ác, sự lao động khổ sai mở đường 14, đã có 210/tổng số 500 lượt tù chính trị bị chết. Nhưng những người tù chính trị không sợ chết mà thể hiện phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản, đó là tinh thần đấu tranh kiên trung, bất khuất. Các đồng chí đã nêu cao tinh thần yêu quê hương đất nước, đùm bọc, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn thử thách, vượt qua những trận đòn roi của kẻ thù. Cùng nhau trao đổi, truyền dạy kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, biến nhà tù của chế độ thực dân thành trường học cách mạng, nâng cao trình độ lý luận, chính trị, văn hóa…Tiêu biểu có cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 “Chết một người để cứu muôn người” (8 người chết, 8 người bị thương); Đấu tranh Tuyệt thực ngày 16/12/1931 (7 người chết, 7 bị thương). Đây là những sự kiện lịch sử lớn, đã gây chấn động cho thực dân Pháp tại Kon Tum cũng như toàn cõi Đông Dương, tác động mạnh mẽ tới phong trào cách mạng Kon Tum lúc bấy giờ cũng như nhiều năm sau này. 

Nhà đày Buôn Ma Thuật và chi bộ tại nhà đày Buôn Ma Thuật:
 
 
Khu Di tích Nhà đày Buôn Ma Thuật số 18 đường Tán Thuật - phường Tự An - thành phố Buôn Ma Thuột. (ảnh sưu tầm)
 
Nhà lao Buôn Ma Thuột, được Pháp xây dựng khoảng năm 1900, để giam giữ tù thường phạm trên cao Nguyên Đăk Lắc. Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Năm 1930-1931, số lượng tù chính trị tăng cao, trước nhu cầu cấp bách để lưu đày biệt xứ và giam giữ những đảng viên cộng sản bị xử án nặng ở các tỉnh Trung Kỳ. Pháp cho xây dựng nhà đày Buôn Ma Thuột trên cơ sở mở rộng nhà lao Buôn Ma Thuật.
Từ năm 1930 – 1940, các chiến sĩ cộng sản ở Nhà đày Buôn Ma thuột đã đấu tranh không mệt mỏi đòi cải thiện tù nhân chống tra tấn khủng bố đòi tự do báo chí hội họp... nhiều cuộc đấu tranh và những cuộc tổ chức vượt ngục của các chiến sĩ đã thành công đã làm cho Pháp hoảng sợ. Trên cơ sở đó vào cuối năm 1940 do tình hình đòi hỏi một số chiến sỹ cộng sản (khoảng 10 đồng chí trong các tổ chức bí mật trong nhà tù) tự thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam (chi bộ lúc mới thành lập có 10 đồng chí. Đến ngày ra tù (tháng 4/1945) đã có trên 150 đồng chí. Ban Chấp hành có các đồng chí: Trần Hữu Dực (Bí thư) Ngô Tuân (Ba Đốc), Vịnh (Nguyễn Chí Thanh), Trần Tống, Nguyễn Hữu Khiếu. Với các ký hiệu hoặc tên gọi khác nhau chi bộ được tổ chức hoạt động và phát triển đội ngũ đảng viên của mình theo Chính cương Điều lệ của Đảng. Trong báo cáo số 180 ngày 16/01/1942 của Công sứ Buôn Ma Thuột gửi Khâm sứ Trung kỳ đã thừa nhận: “Sự tuyên truyền giữa các tù nhân ở Buôn Ma Thuột diễn ra thường xuyên đã chỉ rõ Nhà đày này quả là một trường cao cấp về chủ nghĩa cộng sản”...
                                                                
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Quang tổng hợp

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Bảo tàng Kon Tum - Quá trình hình thành và phát triển

Giới thiệu chung: Bảo Tàng tỉnh trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kon Tum. Được thành lập năm 1998, trên cơ sở tách bộ phận Bảo tàng thuộc “Trung tâm Bảo tàng và Thư viện tỉnh” thành lập đơn vị Bảo tàng tổng hợp tỉnh theo quyết định số: 12/1998/ QĐ- UB, ngày 11 tháng 2 năm 1998. Năm 2009,...

Video chọn lọc