06:54 ICT Thứ bảy, 19/08/2017

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26


Hôm nayHôm nay : 159

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8625

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 101178

Thăm dò ý kiến

Bảo tàng tỉnh Kon Tum có gì đặc biệt?

Cảnh quan, không gian đẹp?

Hiện vật trưng bày phong phú?

Tất cả các ý trên

Trang nhất » Trang chủ » Hoạt động nghiên cứu » Các bài viết khác

Đất và người Đăk Tô anh hùng

Thứ tư - 12/04/2017 14:14
           Đăk Tô ( trong kháng chiến chống Mỹ là H80) có vị trí địa lý khá đặc biệt, gần như nằm ở trung tâm trong địa giới hành chính tỉnh Kon Tum, là địa bàn quan trọng không chỉ với tỉnh Kon Tum mà cả khu vực Bắc Tây Nguyên. Thị trấn Đăk Tô cách thị xã Kon Tum trên 40Km về phía Bắc, án ngữ ngã 3 đường 14 và đường 18. Khu vực trung tâm huyện Đăk Tô gần như một thung lũng, một lòng chảo. Địch đã xây dựng tại đây thành một cụm căn cứ quân sự tương đối lớn, với 2 sân bay và nhiều kho tàng đạn dược nhằm làm căn cứ xuất phát cho các cuộc hành quân của chúng ra vùng 3 biên giới.
Đăk tô - đất lửa kiên cường, Trong suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, Đất và Người Đăk Tô đã dũng cảm ngoan cường, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, đóng góp công sức cùng cả nước lập nên những chiến công vang dội, góp phần giải phóng quê hương. Mỗi tên núi, tên làng nơi đây đều gắn với những chiến công lừng lẫy, mỗi địa danh là một địa chỉ đỏ, là mỗi chiến công: Đăk Tô - Tân Cảnh, Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tô Ba, Ngọc Kom Liệt, Ngọc Giơ Lang…, những cao điểm 875, 823, 966, 1015, 1030, 1424…đã đi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc như những mốc son chói lọi.
Mảnh đất Đăk Tô đã là nơi diễn ra nhiều chiến dịch lớn, trong đó có chiến dịch Đăk Tô mùa đông 1967 đánh lữ đoàn dù 173 và Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Đây là một trong ba chiến dịch trên địa bàn Tây Nguyên được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất trong kháng chiến chống Mỹ ( Plây Me – Gia Lai 1965, Đăk Tô Mùa đông 1967 và chiến dịch Đăk Siêng 1970 )
Nghĩ đến Chiến dịch Bắc Tây Nguyên Xuân - Hè 1972 đánh Đăk Tô- Tân Cảnh là tôi nhớ tới bài thơ "Chiến sĩ Tây Nguyên" của Trương Vĩnh Tuấn (nguyên là  lính trinh sát Mặt trận B3 - nguyên phó Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt nam) được viết tại Kon Tum từ những ngày Mùa hè đỏ lửa năm 1972. Bài thơ viết về những người chiến sĩ Tây Nguyên – những người lính Mặt trận B3, một chiến trường ác liệt, nơi thiếu cơm đói muối thừa bom đạn với những trân sốt rét rừng rung hai đầu võng; về Đăk Tô - Tân Cảnh những ngày diễn ra chiến dịch tháng 4/1972. Bài thơ dài như một bản trường ca, trong đó có những câu thật hùng tráng:
"… Đạn 120 ly cho hướng Ngọc Tô Ba
                             Cối 82 đưa về ngàn linh một
                             Gạo lót Ngọc Rinh Rua gần nhất
                             Rầm rập ngày đêm cho Đăk Tô
                             Chiến sĩ công binh khoan núi mở đường thồ
                             Chiến sĩ Pháo binh chọn đòn khiêng pháo
                             Trinh sát cắt rừng tìm đường táo bạo
                             Cùng đi có chiến sĩ văn công
                             ……
                             Bầu trời Đăk Tô
                              Hiên ngang trên trái đất
                             Trung đoàn 18 xuất kích
                              Pháo binh dồn dập
                             Ngọc Rinh Rua, Ngọc Giơ Lang
                             Cao điểm 800, Ngọc Bờ Biêng…
                             Khép tròn thế trận…
                             … Đăk Tô - Tân cảnh
                             Lửa cháy sáng trời
                             Đại bác từ muôn nơi
                             Dội về sối xả
                             Xích xe tăng chồm lên giận dữ
                             Đạn hỏa tiễn rạch không khí đỏ lừ ….
Những câu thơ mà khi đọc lên ta cứ thấy có âm thanh, hình ảnh, có hào khí của”Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” thủa nào.
 
          Con người Đăk Tô giầu truyền thống yêu nước, cần cù giản dị, dũng cảm ngoan cường. Trong những năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ địa phương, quân và dân Đăk Tô đã đoàn kết một lòng, cùng bộ đội chủ lực vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, mưa bom bão đạn, đóng góp công lao to lớn cùng cả nước làm nên những chiến công chói lọi, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Các cán bộ lão thành cách mạng đã có những tháng năm chiến đấu, gắn bó với Đăk Tô, sống cùng đồng bào các dân tộc Đăk Tô, đều có chung nhận xét: Đồng bào các dân tộc Đăk Tô có tinh thần cách mạng thật là to lớn. Những người dân Đăk Tô chân chất dung dị mà dũng cảm ngoan cường. Trong những năm khó khăn, thời kỳ đen tối ( 1954- 1960) của cách mạng, cũng như  những năm cuối thập niên 60, khi quy mô chiến tranh đã mở rộng, mức độ tàn khốc, ác liệt của chiến tranh ngày càng tăng, đồng bào phải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ, hy sinh lớn lao, luôn một lòng một dạ thủy chung son sắt với Đảng, cách mạng.
       Tại các vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ, tình cảm của đồng bào đối với cách mạng biểu hiện ở sự yêu thương đùm bọc giúp đỡ cách mạng; bất hợp tác với địch. Khi bọn địch đi càn đến là họ giấu tất cả heo gà, lúa gạo không để lọt vào tay chúng, thanh niên trai tráng chạy hết vô rừng không để chúng bắt lính. Mỗi người dân nơi đây khi cách mạng cần đều có thể là một chiến sĩ, một dân quân, du kích. Từ những em bé 12- 13 tuổi đến các cụ già 60-70 đều có thể trở thành những dân công, liên lạc dẫn đường, đưa đón cán bộ, bộ đội. Họ nhịn đói nhường cơm sắn nuôi cán bộ, nuôi thương binh; coi cán bộ, bộ đội như những người thân yêu ruột thịt của mình. Trước mỗi trận đánh, họ là người gùi đạn, cõng gạo. Sau trận đánh họ là người cáng thương, chăm sóc thương binh. Cùng với bộ đội, họ đã kiên cường bám trụ, một tấc không đi, một li không dời, phải chịu đựng sự hủy diệt của bom đạn, phi pháo, chất độc hóa học của giặc hàng chục năm trời. Họ chịu đựng đói cơm lạt muối vì cách mạng, một lòng một dạ thủy chung son sắt tin tưởng vào Đảng, cách mạng, vào một ngày mai chiến thắng.
          Trong chiến dịch giải phóng Đăk Tô- Tân cảnh năm 1972, đồng bào các dân tộc vùng H80 đã giúp đỡ cách mạng rất nhiều. Ngày ấy các phương tiện cơ giới chưa có, tất cả chỉ nhờ vào đôi vai của bộ đội và đồng bào địa phương. Mà bộ đội thì còn phải lo cho công tác chiến đấu. Do đó tất cả công việc chuẩn bị đều dựa vào dân, cụ thể là dân công. Họ mở đường, kéo pháo, lo vận chuyển vũ khí đạn dược, gùi gạo vào các vị trí tập kết. Đồng bào các dân tộc H80 qua đôi vai của mình đã gùi hàng trăm tấn vũ khí đạn dược, lương thực phục vụ cho trận đánh. Rồi họ lại lo đảm bảo bí mật an toàn cho số hàng hóa đó không bị lộ bí mật, mất mát. Chính nhờ có công tác chuẩn bị tích cực chu đáo đó mà bộ đội ta đã đánh thắng giòn dã, đập tan tuyến phòng ngự Đăk Tô - Tân Cảnh tháng 4/1972.
        Ngày ấy, ở vùng căn cứ, Mỹ - Ngụy thường đổ bọn biệt kích thám báo xuống dò xét tìm kiếm nhằm phát hiện nơi đóng quân của bộ đội, nơi đặt căn cứ, kho tàng bến bãi của ta. Đây là lực lượng được Mỹ trang bị, huấn luyện rất kỹ. Chúng đã bắt cóc nhiều đồng bào ta tra tấn, bắt chỉ nơi đóng quân, kho tàng đạn dược. Song hầu hết đồng bào rất gan dạ, không chịu hé răng khai báo với kẻ thù dù phải hy sinh tính mạng. Họ là người biết giữ bí mật tuyệt đối. Những vị trí đóng quân của ta, những cơ quan, kho tàng bến bãi của cách mạng chỉ có thể che mắt được kẻ địch chứ làm sao dấu được quần chúng nhân dân. Vậy mà tất cả đã không hề bị lộ, đã giữ được bí mật an toàn. Bên cạnh đó, khi địch đi càn quét ở đâu, mai phục chỗ nào, nếu đồng bào biết đều tìm cách báo cho cán bộ, bộ đội biết để né tránh.
       Tại phần trưng bày Kon Tum trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước  ở tầng 3 Bảo tàng tỉnh có trưng bày khá nhiều hiện vật của quân và dân Đăk Tô trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong đó có những hiện vật rất quý như cái rựa, nồi đồng nấu cơm của nữ chiến sĩ nuôi quân, anh hùng LLVTND Y Buông; có các hiện vật bình dị như các sưu tập vũ khí của đông đảo quần chúng nhân dân, là gươm lao giáo mác, ná tên chông thò, súng đạn… đồng bào, du kích đã sử dụng cùng nhau đoàn kết chiến đấu bảo vệ buôn làng. Cũng tại đây có trưng  bày 2 tờ báo “GIẢI PHÓNG”của cơ quan của Uỷ ban phong trào Dân tộc tự trị tỉnh Kon Tum số 28 ( 3/1964) và số 38 ( 4/1965). Trong số báo 38 ra tháng 4/1965 ở chuyên mục “Những lời thề son sắt của buôn rẫy quê ta” có đăng lời phát biểu, hứa quyết tâm của ông A Ná, tại cuộc mít tinh ngày 3/4/1965 hưởng ứng Bản Tuyên ngôn ngày 22/3 của Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam: “… Tôi nguyện đem hết sức mình góp phần lãnh đạo các dân tộc trong tỉnh, đánh bại hoàn toàn kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai, giành lại quyền làm chủ núi rừng trọn vẹn ở quê hương…”…
          Ông  Ná quê ở Đăk Tô, là đại uý – tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn lính nguỵ đóng tại Gia Lai. Năm 1959 địch có kế hoạch chuẩn bị đưa ông về làm quận trưởng  Đăk Tô. Từ một đại uý, tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn lính nguỵ của chế độ Mỹ - Diệm, được Đảng quan tâm đánh giá đúng phần bản chất tốt đẹp, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước thương dân ẩn chứa trong con người ông, để từ đó tuyên truyền vận động, giác ngộ và giang rộng vòng tay đón ông về với cách mạng, với nhân dân, tạo điều kiện cho ông góp sức vào sự nghiệp chung của cả dân tộc. Năm 1961 ông Ná được bầu làm phó chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Kon Tum. Ông đã cùng với ông A Chương (Chủ tịch MTDTGP tỉnh) và các ông Nguyễn Văn Chiến (Huề), ông A Lới, Pie Rôn làm tốt công tác Dân vận Mặt trận những năm kháng chiến, tập hợp đồng bào các dân tộc Kon Tum xung quanh Đảng, Bác Hồ chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng.
          Từ khắp các núi rừng, buôn làng, nương rẫy, Đất và Người Đăk Tô đứng lên, cùng nhân dân cả nước thề quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương./.
 
                                                      
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: BTKT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Hệ thống trưng bày

 *Vài nét về Bảo tàng tỉnh KonTum.  Bảo tàng tỉnh được tách ra từ Trung tâm Bảo tàng – Thư viện tỉnh, thành lập tháng 3/1998. Cũng trong năm đó, ngày 8/8/1998, UBND tỉnh ký quyết định số 1471 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Sau một quá trình chuẩn bị và nhiều lần...

Video chọn lọc